HÒA
THƯỢNG
THÍCH
LIỄU NGỌC
(1826
– 1900)
Hòa
thượng pháp danh Liễu Ngọc, tự Phổ Minh, sau cầu pháp với
Tổ Tiên Giác - Hải Tịnh được pháp hiệu là Minh Ngọc,
tự Châu Hoàn, nối pháp dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ
37. Ngài thế danh là Trần Viên Ngoạn, sinh năm Bính Tuất (1826
- đời vua Minh Mạng thứ 7) tại làng Bình Thủy, tổng Định
Thới, huyện Vĩnh Định, phủ Ba Xuyên, tỉnh An Giang (nay là
tỉnh Cần Thơ).
Ngài
sinh ra trong một gia đình trung lưu. Thuở nhỏ ngài theo học
nho, được thầy bạn khen là thông minh và có nết hạnh tốt.
Chẳng may phụ thân mất sớm, Ngài được mẹ già sớm hôm
nuôi dưỡng và thường dẫn đi chùa lễ Phật nghe kinh. Do
đó căn lành được khơi dậy Ngài quyết chí qui hướng về
Tam bảo.
Năm
16 tuổi (1842), Ngài được mẫu thân cho phép xuất gia học
đạo với Hòa thượng trụ trì chùa Long Quang, ngôi chùa làng
ở quê nhà, được Bổn sư ban pháp danh là Liễu Ngọc.
Từ đó, nương mình dưới bóng từ bi, trên nhờ minh sư dạy
bảo, dưới cùng pháp lữ tham tầm, sớm chiều làm bạn với
hoa đàm, đuốc tuệ, nghiên cứu kinh tạng Phật môn, không
bao lâu Ngài đã có được bước tiến rất dài trên đường
ngộ nhập.
Năm
Bính Ngọ (1846) đời Thiệu Trị thứ 6. Một hôm, nhân thời
công phu tịnh độ tại điện Phật, bất chợt nhìn thấy
cánh hoa héo rụng trên bàn, Ngài thoát nhiên giác ngộ. Từ
biệt bổn sư, Ngài đến Tổ đình Giác Lâm ở làng Phú Thọ,
tỉnh Gia Định, thỉnh cầu Hòa thượng Tổ sư Tiên Giác -
Hải Tịnh là vị cao Tăng danh tiếng thời bấy giờ, ấn chứng
sự tỏ ngộ của mình. Hòa thượng Tổ sư rất hài lòng,
bèn truyền Đại giới cho Ngài và đặt pháp hiệu là Minh
Ngọc, tự Châu Hoàn. Sau đó, Ngài ở lại chùa Giác Lâm, phụ
tá Hòa thượng Tổ sư trong công cuộc hoằng hóa lợi sanh,
và để học hỏi thêm giáo điển.
Ngày
10 tháng 10 năm Kỷ Dậu, triều Tự Đức năm thứ 2 (1849) lúc
đó Ngài mới 24 tuổi, được Tổ sư Tiên Giác - Hải Tịnh
cử về trụ trì chùa Hội Phước ở rạch Nha Mân, huyện
Vĩnh An, phủ Tân Thành, tỉnh An Giang (nay thuộc tỉnh Đồng
Tháp). Nhận thấy ngôi Tam bảo Hội Phước tuy gọi là chùa
nhưng thực ra đây là một ngôi thảo am nhỏ bé, không đủ
rộng để tiếp Tăng độ chúng và hoằng dương chánh pháp,
nên qua năm sau, năm Tự Đức thứ 3 (1850) Ngài khuyến giáo
thập phương đóng góp công đức, rồi lên vùng Tây Ninh mua
cây gỗ về kiến tạo thành một ngôi phạm vũ huy hoàng. Đến
nay, đó vẫn còn có một danh lam thắng cảnh của tỉnh Đồng
Tháp.
Năm
Mậu Thìn (1868) chùa Phước Lâm ở Mỹ Tho mở Đại giới
đàn, Ngài được chư Sơn cung thỉnh giữ chức Giáo thọ A
Xà Lê.
Trải
bao năm trên cuộc hành trình của một Như Lai sứ giả, Ngài
hết lòng vì đạo pháp : nào là khai Hương kiết Hạ, tiếp
chúng độ Tăng, nào là xây dựng già lam, trùng tu phạm vũ;
đâu có Phật sự cần đến, Ngài sẵn sàng ghé vai chung lo,
không quản ngại tuổi già sức yếu. Uy tín và đức độ
của Ngài đã cảm hóa biết bao tín đồ tại gia và xuất
gia ở vùng Nha Mân - Sa Đéc, rất nhiều vị qui ngưỡng
đến xin cầu pháp nương học với Ngài.
Đến
năm Canh Tý(1900) ngày mồng 3 tháng 3, Ngài lâm bệnh nhẹ, cho
gọi môn đồ đến khuyên bảo tinh tấn tu học, trau dồi giới
hạnh, giữ vững đạo mạch, bảo tồn uy danh môn phái. Đoạn
Ngài chắp tay niệm Phật rồi an tường thị tịch, hưởng
thọ 75 tuổi đời, 54 tuổi Hạ. Môn đồ pháp quyến xây tháp
tôn thờ nhục thân Ngài trong khuôn viên chùa Hội Phước.
Khi
đã ngộ ra chân lý khổ, không, vô ngã thì dù hành trạng
ít nhiều ở một lần có mặt của một Thiền sư, đều là
một dấu son đáng trân trọng. Ở đây, Ngài Liễu Ngọc –
Châu Hoàn như cơn gió thoảng qua, làm tươi mát trên đường
đời một khoảng thời gian, để lại sự cảm hoài nhè nhẹ
mãi vấn vương cho hậu thế. Song đâu phải mục đích là
đây và hơn nữa, trước khi giác tha, phải tích lũy thật
cao dày sự tự giác. Trường hợp Hòa thượng Liễu Ngọc
là một minh chứng ghi lại cho đời.