CƯ
SĨ
THIỀU
CHỬU- NGUYỄN HỮU KHA
(1902
- 1954)
Cư
sĩ Nguyễn Hữu Kha, pháp danh Thiều Chửu, tên tự là Lạc
Khổ, sinh năm Nhâm Dần (1902), tại làng Trung Tự, quận Đống
Đa, Hà Nội.
Ông
sinh ra trong một gia đình có truyền thống Nho học nhiều đời,
thân sinh là cụ Cử Cầu, một nhà hoạt động cách mạng
lão thành trong phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục. Ông là người
con thứ hai trong bốn anh em: 3 trai, 1 gái.
Từ
thuở bé, ông đã được sống với bà Nội, vốn là một
cô Tú văn hay chữ giỏi ở đất Hà Nội và lại là người
Phật tử mộ đạo thuần thành. Do đó, ông đã tiếp cận
được nếp sống đạo hạnh, tập ăn chay từ năm lên 8 tuổi,
và cũng nhờ bà Nội chỉ dạy cặn kẽ về Nho học, nên ông
đã sớm tinh thông Tứ Thư, Ngũ Kinh. Được thừa hưởng vốn
liếng căn bản quan trọng ấy, khi vào độ tuổi thiếu niên
ông được học chữ Quốc ngữ, đồng thời tự nghiên cứu
thông thạo các ngoại ngữ Anh, Pháp, Hoa và Nhật. Nhờ thiên
tư sẵn có, ông dễ dàng bước vào lãnh vực nghiên cứu giáo
lý Phật Đà, và thấm nhuần sâu sắc, nhanh chóng.
Năm
Tân Dậu (1921), lúc ông 20 tuổi, đã bắt đầu dạy Nho học
giúp cho Tăng đồ quanh vùng, nên có điều kiện trao đổi,
tìm hiểu thêm trong việc nghiên cứu giáo lý. Từ đó, nhận
thấy mình có túc duyên với Phật pháp, và với khả năng
tri thức của mình, ông sẵn sàng hộ pháp. Bằng tâm nguyện
và tư thế một người cư sĩ, ông đảm nhận phụ giảng
cho Tăng Ni và công tác từ thiện xã hội.
Tâm
nguyện cao đẹp đó, được ông thể hiện qua nếp sống giản
dị, đạm bạc. Ông bắt đầu trường chay và mỗi ngày chỉ
ăn một bữa; y phục đơn giản như những người chân quê.
Ông rất quí thời giờ nên công việc được phân chia thời
khóa rành mạch, phần lớn là dịch kinh, viết sách, tu học
và dành rất nhiều thời giờ để gần gũi và chăm sóc các
trẻ em mồ côi.
Để
tạo thêm điều kiện thuận lợi trong việc góp phần tuyên
dương Phật pháp. Ban đầu, ông lập nhà bán sách lấy hiệu
là Hòa Ký ở phố Khâm Thiên, Hà Nội. Khi phong trào chấn
hưng Phật Giáo ở Bắc Kỳ được khởi xướng, Ông cùng
các đạo hữu cư sĩ cùng thời như Nguyễn Năng Quốc, Trần
Trọng Kim, Bùi Kỷ, Trần Văn Giáp, Nguyễn Đỗ Mục, Nguyễn
Văn Ngọc, Nguyễn Văn Vĩnh, Dương Bá Trạc v.v... là những
nhà trí thức tiên tiến, được chư vị Tăng giới như Ngài
Trí Hải, Tố Liên mời đồng đứng ra thành lập Hội Bắc
Kỳ Phật Giáo vào năm Giáp Tuất (1934). Hội ban đầu do Hòa
thượng Thích Thanh Hanh làm Thiền Gia Pháp Chủ.
Năm
Ất Hợi (1935), hoạt động nổi bật nhất của Hội Phật
Giáo Bắc kỳ là việc cho ra đời tạp chí Đuốc Tuệ. Trong
đó ông là một cây bút đắc lực và bền bỉ nhất, phát
huy được vai trò Phật học trên từng trang báo, góp phần
cổ xúy cho phong trào chấn hưng Phật giáo. Báo Đuốc Tuệ
do ông quản lý trực tiếp, đặt trụ sở tại chùa Quán Sứ
- Hà Nội.
Có
thể nói, thời gian Đuốc Tuệ tồn tại trên văn đàn là
do ông điều hành, đã nêu bật tính tích cực và tầm vóc
của một tạp chí Phật giáo lớn thời bấy giờ nơi đất
Bắc. Song song với công việc báo chí, ông còn là tác giả
của bộ Hán Việt Tự điển, đương thời đã được sử
dụng rộng rãi trong cả nước.
Năm
1941, nhằm phát triển công tác giáo dục và từ thiện xã
hội, Hòa thượng Trí Hải đã ủy thác cho ông lập trường
Phổ Quang và nghĩa trang Tế Độ, cả hai cơ sở này đặt
tại ngoại thành Hà Nội. Ông tận tình trông nom và ra sức
dạy học. Lớp học có các Tăng Ni theo học, ngoài việc dạy
chương trình thế học, Nho học, ông còn kiêm giảng dạy Phật
học cho Tăng Ni. Từ những lớp Phật học đầu tiên, có những
vị đã trở thành danh Tăng sau này như Hòa thượng Tâm Tịch,
Hòa thượng Thanh Kiểm..., bên Ni như Ni sư Đàm Tuệ, Ni sư
Đàm Ánh...
Năm
1945, nạn đói xảy ra ở miền Bắc. Thể hiện lòng từ bi,
ông cùng với các Hòa thượng Tố Liên, Trí Hải đứng ra
thành lập Tổng hội Cứu tế, đặt tại chùa Quán Sứ để
giúp những người đói khổ, và dựng nên một Cô nhi viện,
nuôi dạy hơn 200 trẻ mồ côi. Cuối năm 1946, chiến tranh lại
bùng nổ, các Phật sự phải đình chỉ và số phận các cô
nhi bấp bênh. Một nửa các em được đưa về chùa Mai Xá
tự túc sinh sống. Một nửa còn lại, ông mang theo lên Phúc
Yên làm thủ công và trồng khoai sắn vừa sinh sống vừa học
tập.
Thời
gian ông nhận công tác từ thiện dạy dỗ chăm lo các trẻ
cô nhi, cũng là nhân duyên ông dịch kinh và sáng tác nhiều
bài hát để dạy các em Cô nhi và truyền bá cho dân chúng
như: Tấm lòng vị tha, Người chân tu, Lấp biển trầm luân,
Khuyên tu... và một số bài có nội dung giáo dục thiếu nhi
như: Đánh đu... ước tính có đến 15 bài Phật Ca do ông sáng
tác lưu truyền lúc bấy giờ.
Năm
Mậu Tý 1948, ông còn mở thêm lớp học bình dân cho người
nghèo ở Cao Phong - Phúc Yên, quy tụ trên 100 học viên đến
học thường xuyên, ông hướng dẫn các em mồ côi lớp trước
chăm nom trở lại người lớp học sau.
Năm
Kỷ Sửu 1949, chiến tranh vẫn diễn ra khốc liệt, dân chúng
phải sơ tán khắp nơi. Ông phải đưa lớp học đi sơ tán
qua những vùng khác nhau như: Đan Thầm, Đồng Quan, Sơn Tây,
Phúc Yên, Thái Nguyên... rất vất vả khó khăn, có khi chỉ
ăn toàn cháo sắn (khoai mì) suốt tháng. Tuy trong hoàn cảnh
khó khăn như vậy, đi đến đâu ông cũng cùng học trò xây
dựng trường học, cất nhà cho người nghèo và kiên định
giữ đúng thời khóa của bản thân. Vẫn ăn ngày một bữa,
đêm thức dịch kinh, chỉ ngủ 3 giờ đồng hồ, 2 giờ sáng
thức dậy ngồi thiền, trì chú, rồi tập thể dục, uống
trà và đôi phút ngâm thơ... Ông nghiêm khắc với bản thân
cho nên với đồ chúng ông cũng tạo được sự nghiêm minh
triệt để, kỷ luật gắt gao khi có sai phạm. Riêng đối
với Tăng Ni, tuy là học trò của ông, nhưng ông luôn kính
lễ, sách tấn họ tu học và tận tâm chỉ dạy sở học của
mình cho họ.
Cư
sĩ Nguyễn Hữu Kha còn là một người yêu nước triệt để.
Khi Pháp trở lại chiếm Hà Nội, ông dứt khoát không chịu
sống ở những vùng nào mà đã rơi vào tay người Pháp. Vì
thế ông đã dẫn dắt học trò của mình lên tận Phúc Yên,
nơi vẫn thuộc quyền quản lý của cách mạng. Năm 1945, lúc
Cách Mạng thành công, Hồ Chủ Tịch đã mời ông ra làm Bộ
trưởng Bộ Giáo Dục, nhưng ông từ chối, để tiếp tục
việc giảng dạy cho các lớp Phật giáo, cùng Cô nhi, để
theo con đường tu trì lợi tha mà mình đã chọn.
Năm
1951, nghe biết ông gặp nhiều khó khăn ở Phúc Yên, Hòa thượng
Tố Liên có cho người đem giúp ông 6 lượng vàng. Ông dứt
khoát từ chối không nhận trợ giúp nào từ nơi vùng bị
chiếm đóng. Do những phong cách chuẩn mực đó, mà đi đến
đâu, ông cũng được người xuất gia, tại gia và dân chúng
quí trọng, yêu mến, xem ông như một bậc thầy, một Cư sĩ
có đạo hạnh khả kính. Năm 1954, Hiệp định Genève được
ký kết, miền Bắc tiến hành phong trào cải cách ruộng đất,
cải tạo tư sản địa chủ. Nhận thấy những đau khổ của
không ít nông dân bị hàm oan, ông rất đau buồn, cộng vào
sự kiện có lời vu cáo ông về mặt uy tín, và thuộc tầng
lớp trí thức tư sản. Để chứng minh cho sự trong sáng và
thanh bạch của mình, ông đã viết bốn bức tâm thư, ba bức
gởi cho chính quyền trình bày nỗi lòng của ông với ý kiến
đóng góp những điều nên làm và nên tránh để lợi nước
ích dân. Một bức thư còn lại, ông gởi cho các học trò
của mình, dặn dò cố gắng tu hành, học tập để giáo hóa
đời mà đừng để bị đời hóa.
Ngày
15.7.1954, tức ngày 16.6 năm Giáp Ngọ, sau khi từ biệt học
trò, lễ tạ bốn phương, ông đã kết thúc đời mình tại
sông Đuống, thuộc Đồng Mỹ - Thái Nguyên, để cúng dường
Tam Bảo tấm lòng trong sáng thanh tịnh của mình, và để giữ
toàn khí tiết một nhà Nho, một người yêu nước chân chính,
một cư sĩ hoàn thành nhiệm vụ giáo hóa cho đạo và đời.
Ông mất năm 52 tuổi với 30 năm công quả cống hiến cho sự
nghiệp đạo pháp.
Trong
sự nghiệp phiên dịch và trước tác, ông đã để lại cho
hậu thế một di sản tác phẩm quí báu. Tăng Ni Phật tử
đều trân trọng sự thâm nhập giác ngộ cao của ông qua các
kinh sách được tiếp tục lưu truyền:
1.
Phật học cương yếu.
2.
Khóa Hư Kinh diễn giải.
3.
Sự Tích Phật Tổ diễn ca.
4.
Giải thích truyện Quan Âm Thị Kính.
5.
Con đường học Phật thế kỷ XX này.
6.
Nhòm qua cửa Phật.
7.
Cải tà qui chính.
8.
Thế nào là Phật và Phật pháp.
9.
Lục Tổ Đàn Kinh.
10.
Khóa tụng hằng ngày.
11.
Bốn mươi tám phép niệm Phật.
12.
Vì sao tôi tin Phật Giáo (dịch của B. Brongthon).
13.
Kinh lễ sáu phương (dịch).
14.
Kinh Di Giáo (dịch).
15.
Kinh Di Đà (dịch).
16.
Kinh Tứ Thập Nhị Chương (dịch).
....
Cư
sĩ Thiều Chửu - Nguyễn Hữu Kha là một Phật tử xứng đáng
tiêu biểu cho hàng Cư sĩ trong tứ chúng môn đồ của Phật.
Bàn tay đóng góp của người ghi đậm trong lịch sử chấn
hưng Phật giáo miền Bắc Việt Nam. Và hơn nữa, xứng đáng
là gương mẫu tiêu biểu cho sự trọng thị một nhân cách
khiêm ái từ hòa của người con Phật.