CƯ
SĨ
NGUYỄN
VĂN HIỂU
(1896
- 1979)
Cư
sĩ Nguyễn Văn Hiểu sinh ngày 01/10/1896 tại làng Tân An, tổng
Định Bảo, tỉnh Cần Thơ, con của ông Nguyễn Quang Diệu
và bà Mai Thị Đường.
Từ
nhỏ ông học chữ Nho, sau chuyển sang học chương trình Pháp
- Việt trong năm năm tại Cần Thơ.
Năm
1911, ông thi đậu học bổng trường Trung học Mỹ Tho, sau
đó lên Sài Gòn học trường Chasseloup Laubat, thi đậu bằng
Thành Chung năm 1915. Rồi ông học trường Công Chánh Hà Nội
và thi đậu bằng Cao học Kỹ thuật Công chánh Hà Nội năm
1918. Năm 1919 ông sang làm việc tại Campuchia, năm 1925 về làm
Sở Hỏa Xa Sài Gòn, năm 1944 làm Giám Đốc Hỏa Xa miền Nam.
Lúc
nhỏ, ông quy y theo phái Cao Đài Tiên Thiên. Sau đó ông chuyển
qua nghiên cứu Tin Lành - Gia Tô Giáo.
Cuối
năm 1930, nhân đọc quyển La Sagesse du Bouddha (Tuệ Giác của
Phật) và hiểu được giá trị đích thực của đạo Phật,
từ đó ông ôm ấp ý nguyện truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy.
Lúc đầu ông tập họp được các bạn đồng học gồm cư
sĩ Cầm, Núi, Nhật, Hương cùng nhau thực hành thiền định.
Năm
1935, khi gặp lại người bạn là Bác sĩ Thú Y Lê Văn Giảng,
ông đem quyển kinh Phật bằng chữ Pháp giới thiệu và khuyên
về Campuchia tầm sư học đạo. Sau đó người bạn xuất gia
là Hòa thượng Hộ Tông, người sáng lập Phật giáo Nguyên
thủy Việt Nam.
Năm
1938, khi đi tìm đất cất chùa ở vùng ngoại ô Sài gòn Chợ
Lớn, ông gặp được ông Bùi Ngươn Hứa hiến phần đất
ở Gò Dưa - Thủ Đức để lập nên chùa Bửu Quang, ngôi chùa
đầu tiên của Phật giáo Nam Tông Việt Nam.
Năm
1939, ông đã thỉnh Ngài Hộ Tông, Ngài Thiện Luật, Ngài Huệ
Nghiêm và một nhà sư người Campuchia về Việt Nam hoằng dương
giáo pháp. Cũng trong năm 1939 này, ông đã thỉnh Đức vua Sãi
Campuchia Chuôn Nath và 30 vị Tỳ kheo Campuchia về làm Lễ Kiết
Giới Sìmà tại chùa Bửu Quang.
Năm
1940, ông bán nhà lấy nửa số tiền cất lại chùa Bửu Quang
bằng ngói gạch và một cốc lầu gồm ba căn cũng bằng gạch
ngói, phân nửa tiền còn lại ông mua ruộng để lo chi phí
ẩm thực cho chùa.
Năm
1948, ông khởi công xây dựng chùa Kỳ Viên tại Bàn Cờ Sài
Gòn và thỉnh chư Tăng đến thuyết pháp, Pháp sư Thông Kham
từ Lào đã được thỉnh về thuyết pháp tại chùa Kỳ Viên
này. Ngài Naradà ở Tích Lan đã đến ngôi chùa này để mở
đạo tràng giảng giáo lý.
Ngày
14/5/1957 ông đứng ra thành lập Tổng Hội Phật Giáo Nguyên
Thủy dành cho cư sĩ hoạt động. Ngày 18/12/1957 ông cùng với
các Cao Tăng Nam Tông thành lập Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy
Việt Nam.
Bên
cạnh Phật sự quan trọng trên ông còn lưu tâm trước thuật,
phiên dịch một số kinh sách phục vụ công cuộc hoằng truyền
Phật đạo, như sau:
1.
Tại sao theo phái Tiểu Thừa.
2.
Chọn đường tu Phật.
3.
Trên đường hoằng pháp của Đức Phật.
4.
Con đường giải thoát.
5.
Pháp vô ngã.
6.
Thiền định.
7.
Luân lý và xã hội Phật giáo.
8.
Niệm tâm từ.
9.
Thành kiến ngã chấp.
Năm
1961, ông đứng ra vận động quyên góp tài chính để xây
cất Thích Ca Phật Đài (Vũng Tàu).
Ngoài
ra, ông đã tham dự Hội nghị kết tập Tam Tạng lần thứ
6 tại Miến Điện, tham dự Hội nghị Phật giáo Thế Giới
tại Thái Lan và Ấn Độ năm 1964, và ông cũng đã sang Tích
Lan và Singapore để thăm viếng các Hội Phật Giáo.
Tuổi
cao sức yếu và một số sở nguyện hộ pháp đã viên thành.
Cư sĩ về cõi Phật ngày mùng 2 tháng 5 năm 1979, tức ngày
mùng 7 tháng 4 năm Kỷ Mùi, hưởng thọ 83 tuổi đời, hơn
40 năm là Cư sĩ hộ pháp.
Là
bậc tiên phong kỳ vĩ trong lịch sử cộng đồng cư sĩ Phật
giáo Nguyên Thủy Việt Nam, cư sĩ Nguyễn Văn Hiểu đã để
lại một sự nghiệp lớn lao là du nhập và phát triển Phật
Giáo Nguyên Thủy tại Việt Nam.