CƯ
SĨ
CHÁNH
TRÍ - MAI THỌ TRUYỀN
(1905
- 1973)
Cư
sĩ Mai Thọ Truyền sinh ngày 01-4-1905 tại làng Long Mỹ, tỉnh
Bến Tre trong một gia đình trung lưu. Thuở nhỏ ông được
theo học tại trường Sơ học Pháp - Việt Bến Tre, rồi Trung
học Mỹ Tho, và Chasseloup Laubat Saigon. Năm 1924, ông thi đậu
Thư ký Hành chánh và được bổ đi làm việc tại Sài Gòn,
Hà Tiên, Chợ Lớn. Năm 1931, ông thi đậu Tri huyện và đã
tùng sự tại Sài Gòn, Trà Vinh, Long Xuyên và Sa Đéc. Hành
nhiệm ở đâu cũng tỏ ra liêm khiết, chính trực và đức
độ, không xu nịnh cấp trên, hà hiếp dân chúng, nên được
quý mến.
Năm
1945, sau đảo chính Nhật, ông đang làm Quận trưởng Cầu
Ngang, được mời về giữ chức Phó Tỉnh trưởng Trà Vinh.
Tháng 6 năm ấy, chính quyền Trần Trọng Kim cử ông làm Quận
trưởng Thốt Nốt (Long Xuyên). Sau Cách Mạng Tháng Tám, ông
được cử làm Chủ Tịch Ủy Ban Quận Bộ Việt Minh Châu
Thành, Long Xuyên, rồi Chánh văn phòng kiêm Ủy viên Tài chánh
Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Long Xuyên.
Sau
khi quân đội Pháp chiếm Long Xuyên, ông cùng Ủy ban dời về
núi Sập rồi giải tán, nhường quyền chỉ huy kháng chiến
cho quân sự. Ông lánh về vùng thôn quê ẩn náu. Chính phủ
Nguyễn Văn Thinh mời ông làm Quận trưởng, rồi Phó tỉnh
trưởng Sa Đéc. Trước cảnh quân đội Pháp bố ráp tàn sát
dân chúng, ông can thiệp không được, nên xin từ chức. Chính
phủ không cho, ông bèn cáo bệnh xin đi điều dưỡng.
Giữa
năm 1947, ông xin đổi về Sài Gòn và lần lượt giữ các
chức vụ sau đây: Chánh văn phòng Phủ Thủ Tướng chính phủ
Nguyễn Văn Xuân (Hà Nội), Chánh văn phòng Bộ Kinh Tế, Giám
đốc hành chánh sự vụ Bộ Ngoại Giao, Đổng lý văn phòng
Bộ Nội vụ của Chính phủ Nguyễn Phan Long, Đổng Lý văn
phòng Phủ Thủ Hiến Việt Nam và Phó Đổng lý văn phòng Phủ
Thủ tướng của Chính phủ Bửu Lộc. Năm 1955 ông đổi qua
ngạch Thanh tra Hành chánh và Tài chánh, đến năm 1960 thì về
hưu.
Sau
ngày 01-11-1963, ông tham gia Hội Đồng Nhân Sĩ cách mạng. Năm
1967 ông ứng cử Phó Tổng thống trong liên danh Trần Văn Hương.
Năm 1968 ông giữ chức Quốc vụ khanh kiêm Viện trưởng Giám
sát viện, rồi Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa cho đến
năm quy tịch. Với trách vụ Quốc vụ khanh đặc trách Văn
hóa, ông đã làm được những việc có ích cho đương thời
và hậu thế: xây dựng Thư viện Quốc gia (ngay trên khuôn
đất mà thực dân Pháp đã dùng xây khám lớn Saigon gieo biết
bao tội ác) nay là Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố,
xúc tiến việc thành lập Văn khố quốc gia và Nhà văn hóa,
thành lập và đẩy mạnh hoạt động của Ủy ban Điển chế
văn tự, lập Ủy ban dịch thuật và xuất bản các sách Hán
Nôm quý hiếm, thành lập Chi nhánh Bảo tồn Cổ tích Huế.
Sự
nghiệp lịch sử của ông đối với Phật giáo từ khi ông
bắt đầu trở thành cư sĩ Phật tử. Trong những năm làm
việc đó đây khắp lục tỉnh miền Tây, ông để tâm nghiên
cứu tìm hiểu về Phật giáo, Nho giáo, và các tư tưởng tôn
giáo triết lý khác. Đến đâu ông cũng tham vấn các vị danh
nho nổi tiếng để thử tài học vấn và biện bác, nhưng
chưa vị nào giúp ông thỏa nguyện. Đến khi làm việc ở
Sa Đéc, ông đến tham vấn Hòa Thượng Thích Hành Trụ thế
danh Lê Phước Bình, là giảng sư tại chùa Long An, chính nơi
đây ông thực sự qui ngưỡng cảm phục trước đức độ
và trí tuệ của vị danh Tăng nên cầu làm đệ tử của Ngài.
Hòa thượng Thích Hành Trụ đặt pháp danh cho ông là Chánh
Trí. Từ đây, ông bắt đầu dốc lòng đem khả năng và trình
độ học thức của mình ra hộ trì chánh pháp.
Đối
với phong trào chấn hưng Phật giáo, ông là một kiện tướng
trong hàng cư sĩ đã đóng góp công sức rất lớn. Là một
Phật tử thuần thành, ông ăn chay trường từ ngày thọ Tam
quy ngũ giới, làm Phật sự không biết mệt mỏi. Năm 1950,
tại Saigon, ông vận động thành lập Hội Phật Học Nam Việt.
Ban đầu hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, sau dời
qua chùa Phước Hòa. Ông vận động và đứng ra xây dựng
ngôi chùa lịch sử Xá Lợi, một ngôi phạm vũ huy hoàng tráng
lệ nhất, tiêu biểu cho nét văn hóa mới của Đông Tây hòa
quyện, làm trụ sở của Hội Phật Học Nam Việt. Năm 1958
hội chuyển về chùa Xá Lợi. Ông làm Tổng thư ký của hội
khi mới thành lập và Hội trưởng từ 1955 cho đến ngày ông
mất. Hội đã mở các lớp Phật học phổ thông lúc bấy
giờ do chư Thượng tọa Thiện Hòa, Trí Hữu, Thiện Hoa, Quảng
Minh diễn giảng. Ông cũng tham gia soạn và giảng một số
tiết mục cho học viên. Hàng tuần, tại chùa Xá Lợi, ông
còn tổ chức các thời thuyết pháp cho đại chúng do ông mời
các vị cao Tăng Đại đức trong nước hay nước ngoài đăng
đàn. Có khi chính ông là giảng sư.
Bên
cạnh đó, Hội Phật Học Nam Việt còn xuất bản tạp chí
Từ Quang do ông làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Tạp chí này
suốt gần 24 năm liên tục (1951- 1975) đã đóng góp không nhỏ
cho công việc phổ biến Phật học ở Sài Gòn và các tỉnh.
Tạp chí đã được chư Tăng bên Giáo Hội Tăng Già Nam Việt
sốt sắng góp phần về phương diện biên tập. Chính ông
là người viết thường xuyên trên Từ Quang. Với lối hành
văn nhẹ nhàng, bóng bẩy và sâu sắc, với trình độ thâm
hiểu nghĩa lý sâu xa của kinh điển, những bài ông viết
đã được độc giả hoan nghênh, đã tạo cơ duyên cho nhiều
người đến với đạo Phật. Ông cùng Hội Phật Học Nam
Việt đã thành lập trên 40 Tỉnh hội và Chi hội Phật học
khắp miền Nam.
Để
làm đòn bẩy thúc đẩy cho phong trào chấn hưng Phật giáo
tại miền Nam, năm 1952, ông và Hội Phật Học Nam Việt đã
tạo nên Phật sự vô cùng quan trọng, gây được tiếng vang
khắp toàn quốc. Đó là lễ rước ngọc Xá Lợi tại Sài
Gòn vào ngày 13-9-1952. Nhân khi phái đoàn Phật giáo Tích Lan
đi dự Đại Hội Phật Giáo thế giới kỳ II tại Tokyo, có
mang theo một viên ngọc Xá Lợi để tặng quốc gia Nhật Bản.
Trên đường đi, phái đoàn quá cảnh Sài Gòn 24 tiếng đồng
hồ. Cuộc rước ngọc Xá Lợi đã được đông đảo Tăng
Ni, Phật tử và đồng bào thành phố và các tỉnh lân cận
tham dự để chiêm bái Xá Lợi Phật đầu tiên đến Việt
Nam.
Trong
giai đoạn đấu tranh năm 1963 được coi là pháp nạn, ông
giữ nhiệm vụ Tổng thư ký Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật
Giáo đòi hỏi chính quyền Ngô Đình Diệm thực thi bình đẳng
tôn giáo. Ông và Hội Phật Học Nam Việt đồng ý để Ủy
ban đặt trụ sở trung ương tại chùa Xá Lợi. Khi chính quyền
cho quân đội và cảnh sát đánh phá, phong tỏa chùa, bắt
bớ cầm tù Tăng Ni Phật tử, ông cũng chịu chung số phận.
Chùa Xá Lợi trở thành địa điểm lịch sử trong cuộc đấu
tranh kiên cường đẫm máu của Phật giáo đồ chống chế
độ độc tài kỳ thị tôn giáo. Năm 1964, ông tham gia Ủy
ban soạn thảo Hiến Chương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất và được bầu làm Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo.
Nhưng vì bất đồng ý kiến về mặt tổ chức, chỉ một
tháng sau ông từ nhiệm, quay về hoạt động cho Hội Phật
Học Nam Việt trong cương vị Hội trưởng.
Khi
Viện Đại Học Vạn Hạnh được thành lập, tạm đặt tại
chùa Xá Lợi trong khi chờ xây xong cơ sở, ông nhận làm giáo
viên cho Viện trước tiên, và sau đó ông còn giữ chức Phụ
tá Viện trưởng đặc trách hành chánh và tài chánh, kiêm
Tổng thư ký niên khóa 1967- 1968.
Ngoài
những Phật sự nói trên, ông còn để tâm nghiên cứu kinh
điển Phật Đà. Với học lực uyên thâm và sự thông hiểu
sâu sắc giáo lý ông đã dành nhiều thời gian dịch và trước
tác các tác phẩm có giá trị về Phật học như sau:
- Tâm
và Tánh (do Nhà Xuất bản Đuốc Tuệ - Hà Nội ấn hành năm
1950).
-
Ý nghĩa Niết Bàn (1962).
-
Một đời sống vị tha (1962).
-
Tâm kinh Việt giải (1962).
-
Le Bouddhisme au Viet Nam (1962)
-
Pháp Hoa huyền nghĩa (1964)
-
Địa Tạng mật nghĩa (1965)
(Do
Hội Phật Học Nam Việt ấn hành).
Ngoài
ra, ông còn một số tác phẩm chưa xuất bản như: Truyền
tâm pháp yếu, Tây Du Ký, Hư Vân Lão Hòa Thượng, Kinh Vô Lượng
Thọ, Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Mười lăm ngày ở Nhật, Vòng
quanh thế giới Phật giáo, Đạo đời, Khảo cứu về Tịnh
Độ Tông, Mật Tông và một tác phẩm đang viết dở là Kinh
Lăng Nghiêm.
Ngày
15-4-1973, ông còn cùng các đại biểu các tỉnh của Hội Phật
Học Nam Việt họp đại hội tại chùa Xá Lợi, chia tay vào
lúc 23 giờ khuya. Sáng 17-4-1973 tức rằm tháng ba năm Quý Sửu,
vào lúc 8 giờ 15, ông nằm ngay thẳng, từ giã cõi trần rất
nhẹ nhàng, thanh thản, hưởng thọ 69 tuổi.
Ông
đã cống hiến trọn đời cho việc phụng sự Phật pháp.
Ông là một người cư sĩ mẫu mực uyên thâm giáo lý, tận
tụy với đạo dù đang ở những địa vị cao của quan trường.
Ông là một điển hình cho sự tích cực của hàng cư sĩ lợi
đạo ích đời theo tinh thần đạo Phật, và là điểm sáng
chói ở miền Nam trong phong trào chấn hưng và thống nhất
Phật giáo, góp phần lớn lao trong sự nghiệp truyền bá tri
thức Phật học, nhất là phát triển hệ thống Phật học
cư sĩ do ông sáng lập ra vẫn còn duy trì hoạt động cho đến
ngày nay.