HÒA
THƯỢNG
THÍCH
NHỰT MINH
(1908
- 1993)
Hòa
thượng thế danh là Nguyễn Quang Tống, pháp danh Nhựt Minh,
húy Chơn Tảo, hiệu Trí Từ, thuộc dòng Lâm Tế đời thứ
40, sinh ngày rằm tháng 8 năm Mậu Thân (10-9-1908) tại xã Tân
Lợi, tổng Quản Long, quận Cà Mau, tỉnh Bạc Liêu (nay là
tỉnh Minh Hải). Ngài sinh trưởng trong một gia đình tín thành
Phật giáo. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Đồng pháp danh
Chơn Từ. Thân mẫu là cụ bà Đặng Thị Nhụy pháp danh Diệu
Hương.
Từ
ngày còn thơ ấu, Ngài đã được song thân dẫn đến chùa
lễ Phật, nên mến thích cảnh thiền môn. Đến năm lên 8
tuổi, Ngài được song thân chấp thuận cho phép xuất gia học
đạo tại chùa Từ Phước với vị Hòa thượng trú trì chính
là ông nội của Ngài. Trong đạo nghĩa thầy trò còn có tình
huyết thống nên Ngài được giáo dục rất chí tình.
Năm
Ngài 12 tuổi (1919) Bổn sư viên tịch, khiến Ngài không biết
nương tựa vào ai. Nỗi buồn chưa nguôi thì qua năm sau, thân
mẫu lại qua đời, Ngài đành phải trở về sống chung với
gia đình. Vài tháng sau, cô ruột của Ngài là sư bà Diệu
Hạnh, trú trì chùa Quan Âm Phật tại xã An Trạch - Bạc Liêu,
biết được hoàn cảnh, bèn cho người tới đón về theo hầu
Hòa thượng Thiện Nhựt ở chùa Thiên Ấn để tiếp tục
tu học.
Năm
1921, Ngài được Tổ Thiên Ấn cho theo học lớp Đông y tại
chùa Long Phước thuộc xã Long Điền, huyện Giá Rai do Hòa
thượng Hoằng Nghĩa chủ trì.
Năm
1922, Ngài 15 tuổi, Tổ Thiên Ấn cho thọ giới Sa Di tại giới
đàn Sắc tứ Quan Âm Cổ Tự - Cà Mau, được Tổ ban pháp
danh Nhựt Minh, và cho đến cầu pháp học hỏi với Tổ Quảng
Đạt.
Đến
năm 1927, lúc 20 tuổi, Ngài thọ giới Tỳ Kheo tại giới đàn
chùa Bửu Linh huyện Cổ Cò. Năm 1932, Ngài tới cầu học với
Tổ Bửu Quang chùa Vạn Linh - Cần Thơ. Năm 1937, Ngài tiếp
tục tham học với Tổ Chánh Thành chùa Vạn An - Sa Đéc.
Năm
1942, Ngài được cử làm Giáo thọ tại Trường Kỳ chùa Long
Phước, xã Long Điền. Năm 1944, Ngài làm Yết Ma A Xà Lê Trường
Kỳ chùa Linh Thạnh tại Bá Láng, huyện Giá Rai.
Năm
1945 Cách Mạng Tháng Tám thành công, rồi kế đến Nam bộ
kháng chiến, với trách nhiệm Tăng sĩ trước hiện tình đất
nước, Ngài tham gia công tác Mặt trận đoàn kết toàn dân,
góp phần chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp. Suốt
bảy năm liên tục, Ngài giữ chức Hội trưởng Hội Phật
giáo Cứu quốc tỉnh Bạc Liêu. Tuy lo Phật sự, Ngài vẫn
không quên tham cầu giáo lý. Ngài đã cầu pháp với Hòa thượng
Huệ Viên tại chùa Vĩnh Hòa tỉnh Bạc Liêu, được ban pháp
hiệu Trí Từ.
Năm
1951, trong một cuộc bố ráp của thực dân, Ngài bị bắt
đưa về giam lỏng ở Cà Mau. Ít lâu sau, Ngài đã trốn ra
vùng tự do gây dựng lại cơ sở. Được một thời gian cơ
sở bị bại lộ, Ngài phải rời quê lên Sài gòn. Ngài tham
gia vào Giáo Hội Tăng Già Nam Việt trụ sở của hội đặt
tại chùa Ấn Quang, và được cử làm Phó Trị sự trưởng
phụ tá Hòa thượng Thích Thiện Hòa.
Đến
năm 1953, nhận thấy ở các tỉnh miền Tây, phong trào Phật
giáo có phần suy yếu, thiếu bóng các bậc Tăng tài hướng
dẫn, Giáo Hội cử Ngài làm Tăng trưởng ba tỉnh Sóc Trăng,
Bạc Liêu và Cà Mau. Với cương vị ấy, năm 1955, Ngài mở
đại giới đàn tại chùa Phước Hòa huyện Mỹ Xuyên, tỉnh
Sóc Trăng, Ngài được chư sơn 6 tỉnh miền Tây cung thỉnh
vào ngôi vị Đàn đầu Hòa thượng. Giới tử Tăng Ni hơn
100 vị và hơn 1.000 Phật tử được thọ ân pháp vũ của
Ngài.
Năm
1956, Ngài xây dựng chùa Đại Giác tại tỉnh Sóc Trăng để
làm văn phòng liên lạc cho Phật giáo ba tỉnh nói trên. Năm
1961 Ngài được cử làm Trưởng ban Từ thiện Giáo hội Tăng
già Toàn quốc. Năm 1962, Ngài nhận trọng trách mới là Chủ
tịch đoàn Như Lai Sứ Giả, tuyển chọn Tăng tài bổ nhiệm
trú trì các tự viện và dẫn đầu Ban Hoằng Pháp đi thuyết
giảng khắp các tỉnh Nam, Trung. Đây là điểm son trong công
tác Phật sự của Ngài.
Năm
1964 - 1966, Ngài dẫn đệ tử ra Long Thành- Đồng Nai khai phá
đất đai, lập khu Phật Tích Tòng Lâm. Trong lúc công việc
kiến tạo Tòng Lâm đang còn dang dở, thì Hòa thượng Từ
Quang, nguyên Hội trưởng Hội Linh Sơn Phật Học tại Sài
Gòn ra tận nơi hai lần, thỉnh cho kỳ được Ngài về đảm
nhiệm chức vụ trú trì Linh Sơn Cổ Tự đường Cô Giang,
gần chợ Cầu Muối. Ngày 01-1-1968 nhân đại hội Phật giáo
tổ chức tại chùa Linh Sơn, Ngài được chính thức bầu làm
trú trì kiêm Hội chủ Linh Sơn Phật học.
Khi
Ngài về nhận nhiệm vụ trú trì, chùa Linh Sơn ở trong tình
trạng gần như hoang tàn. Ngài bắt tay vào việc trùng tu, tái
thiết liên tục trong ba năm. Cuối năm 1970, công việc hoàn
thành. Chùa Linh Sơn trở nên nguy nga tráng lệ do công sức
đóng góp của Tăng sinh các Phật học viện Hải Tràng, Huỳnh
Kim, Giác Sanh và Phật tử xa gần ở các chợ Cầu Muối, chợ
Cầu Ông Lãnh, chợ Cầu Kho... Đầu năm 1971 đại lễ khánh
thành được tổ chức long trọng cùng lúc với đại giới
đàn và lễ thỉnh ngọc Xá lợi Phật Thích Ca do Đại đức
Narada người Tích Lan cúng dường thờ tại chùa. Sau cuộc
lễ này, Phật học viện Linh Sơn tiếp tục mở lại trong
ba năm, có trên 50 Tăng Ni sinh theo học.
Năm
1973, Ngài ra Hòn Nghệ trong vùng biển Kiên Giang xây dựng Bảo
tượng đức Quan Thế Âm Bồ Tát lộ thiên, cao 22 mét để
cầu an lành cho mọi người qua lại trên biển, nhất là ngư
dân. Công việc kiến tạo này gần xong thì miền Nam hoàn toàn
giải phóng.
Năm
1987 Ngài cùng nhiều vị Hòa thượng trú trì các tự viện
ở một số tỉnh và thành phố Hồ Chí Minh đứng ra xây dựng
“Tam bảo công đồng tháp” trong khuôn viên Phật Tích Tòng
Lâm ở xã An Phước, huyện Long Thành để an trí di cốt hàng
trăm vị tôn đức mãn thế. Năm 1989 ngôi tháp đã hoàn thành
viên mãn.
Từ
năm 1992, sức khỏe của Ngài sút giảm dần. Ngày mồng 7 tháng
3 năm Quý Dậu (28-4-1993) vào lúc 13 giờ 40' Ngài đã an nhiên
thâu thần thị tịch, hưởng thọ 87 tuổi đời, 67 tuổi hạ.