HÒA
THƯỢNG
THÍCH
THIỀN TÂM
(1925
- 1992)
Hòa
thượng pháp danh Thiền Tâm, pháp hiệu Liên Du, tự Vô Nhất
thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 43, thế danh Nguyễn
Nhựt Thăng, sinh năm 1925 (Ất Sửu) tại xã Bình Xuân, Gò Công
Đông, tỉnh Tiền Giang. Song thân là cụ Nguyễn Văn Hương
và cụ Trần Thị Dung pháp danh Giác Ân. Ngài là người thứ
10 trong số 13 anh em, 4 trai, 9 gái.
Xuất
thân từ gia đình Nho giáo kính tín Tam Bảo. Sáu tuổi, Ngài
đã cắp sách đến trường học quốc ngữ song song với Nho
học. Lúc thiếu thời, Ngài đã bộc lộ thiên tư tài hoa văn
nhã, bẩm chất cao khiết, và là người con chí hiếu với
cha mẹ. Do vì thấy mẹ đau yếu triền miên, năm 12 tuổi,
Ngài ra đi tìm thầy học thuốc để mong trị lành bệnh cho
mẫu thân. Nhân tạm trú học thuốc tại chùa Vĩnh Tràng -
Mỹ Tho, Ngài có dịp nghiên tầm Phật điển và nuôi dần
ý chí xuất gia tu học.
Năm
18 tuổi, Ngài trở về chăm sóc mẹ đến khi lành mạnh. Sau
đó, Ngài khẩn khoản xin phép song đường cho xuất gia, nhưng
không được đồng ý. Cuối cùng, Ngài đành phải âm thầm
trốn đi (năm Giáp Thân - 1944, lúc 19 tuổi), đến tu tại chùa
Sắc Tứ Linh Thứu ở Xoài Hột, và được thế phát xuất
gia vào năm Ất Dậu (1945) làm đệ tử của Đại lão Hòa
thượng Thành Đạo.
Năm
1948, Ngài thọ giới Sa Di và học ở Phật học đường Liên
Hải cùng Phật học đường Nam Việt chùa Ấn Quang cho đến
năm 1951 để hoàn tất chương trình Trung đẳng Phật học.
Thời gian đó, Ngài được thọ Tỳ Kheo giới tại Đại giới
đàn Ấn Quang tổ chức năm 1950.
Từ
năm 1951 đến năm 1954, Ngài hoàn tất chương trình Cao đẳng
Phật học tại Phật học đường Nam Việt với các vị đồng
khóa như: Hòa thượng Bửu Huệ, Tắc Phước, Tịnh Đức,
Đạt Bửu, Tịnh Chơn... và Ngài cùng quý thầy lớp Cao đẳng
đã phụ giúp đắc lực cho Hòa thượng Giám đốc Thiện Hòa
trong việc điều khiển sinh hoạt đại chúng. Ngài làm Tri
chúng, Ngài Bửu Huệ làm Tri sự. Lòng khoan dung, tính hòa nhã
điềm đạm của Ngài giúp an chúng và thành tựu mọi Phật
sự.
Năm
1954, tốt nghiệp lớp Cao đẳng, Ngài xin phép chư Tôn đức
trong Ban Giám Đốc lui về nhập thất tịnh tu trong mười năm
tại trụ xứ Cái Bè và Vang Quới.
Dù
nhập thất tinh tấn chuyên tu, song Hòa thượng không xa rời
bi nguyện độ sanh. Trong mười năm ấy, Ngài đã phiên dịch
các loại kinh sách chuyên hướng xiển dương pháp môn Tịnh
độ, như: kinh Quán Vô Lượng Thọ, Tịnh học Tân Lương,
Lá thơ Tịnh Độ, Hương quê Cực Lạc, và giảng dạy cho
Ni chúng khắp nơi đến thọ học.
Năm
1964, Hòa thượng Thiện Hòa mở Trường Trung đẳng Chuyên
khoa Phật học tại chùa Huệ Nghiêm, Bình Chánh, Sài Gòn. Ngài
và hai vị Thanh Từ, Bửu Huệ được mời giao đảm trách
việc giáo dục học Tăng. Song song đó, các Ngài còn phụ trách
giảng dạy cho học Ni tại Phật học viện Dược Sư. Ngoài
ra, Ngài còn giảng dạy tại Phân khoa Phật học thuộc Viện
Đại Học Vạn Hạnh, Sài Gòn. Trong giai đoạn này, Ngài tập
trung biên soạn các bộ sách để làm giáo trình kiến thức
Phật học Trung Cao như: Phật học Tinh Yếu, Duy Thức học
Cương yếu và phiên dịch sách Tịnh Độ Thập Nghi Luận cùng
kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni.
Năm
1967, Ngài đến Đại Ninh, ấp Phú An, xã Phú Hội, huyện Đức
Trọng, tỉnh Lâm Đồng, kiến thiết Hương Quang Thất, chuẩn
bị cho giai đoạn ẩn tu.
Năm
1968, Hòa thượng chính thức về trụ hẳn ở Đại Ninh, lập
nên đạo tràng Tịnh độ. Ngài không câu nệ vào việc nhập
thất, mà sẵn sàng tiếp hóa chư Tăng Ni Phật tử đến tham
vấn học đạo, Ngài còn soạn thuật: Niệm Phật thập yếu,
Tây phương nhựt khóa, Tịnh độ pháp nghi và phiên dịch kinh
Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni.
Năm
1970, Ngài xây dựng Hương Nghiêm Tịnh Viện, biến đạo tràng
thành một vùng chuyên tu Tịnh độ, cũng là trung tâm xiển
dương pháp môn này ở miền Nam. Tăng Ni tín đồ qui tụ về
lập am thất trụ lại tu học rất đông. Danh đức của Ngài
được lan truyền rộng và Phật tử đến quy ngưỡng ngày
càng nhiều. Đặc biệt, ở Hương Nghiêm Tịnh Viện này tâm
Tịnh độ là nguồn cảm hứng để Ngài sáng tác rất nhiều
thơ văn đượm chất đạo vị, thanh thoát. Thơ văn liễu ngộ
tâm cảnh Cực Lạc của Ngài cảm hóa được không biết bao
nhiêu đồ chúng hướng về pháp môn này.
Năm
1974, Ngài mở khóa tu học chuyên về pháp môn Tịnh độ trong
ba năm, với số Liên chúng 13 vị dưới sự hướng dẫn của
Ban Liên Đạo gồm 3 vị: Liên Thủ: Hòa thượng Bửu Huệ,
Liên Huấn: Hòa thượng Thiền Tâm, Liên Hạnh: Hòa thượng
Bửu Lai.
Từ
năm 1975, Ngài viễn ly mọi sự nghe thấy bên ngoài, lặng lẽ
nhiếp tâm tu niệm gia trì hai pháp môn Mật Tịnh song hành.
Suốt một thời gian dài, Ngài kiên trì nhập thất chăm chắm
giải quyết việc lớn sanh tử, song Ngài vẫn soạn dịch bộ:
“Mấy Điệu Sen Thanh” và “Tam Bảo cảm ứng lục” để
lợi lạc nhân sinh khuyến tu Tịnh độ.
Những
ngày cuối cùng cuộc đời ẩn tu hành đạo, Ngài vương chút
thân bệnh, trước đó Ngài đã giao phó mọi việc của Tịnh
viện Hương Nghiêm lại cho Tăng đồ quản lý điều hành.
Ngài cố gắng khắc phục thân bệnh, nổ lực dụng công trì
danh hiệu Phật. Cho đến khi cảm nhận thời khắc vãng sinh,
Ngài bảo đồ chúng vây quanh trợ niệm, rồi đến 9 giờ
sáng ngày 21 tháng 11 năm Nhâm Thân (tức ngày 14-2-1992), Ngài
an nhiên thoát hóa, vãng sinh hưởng thọ 68 tuổi, hạ lạp
42.
Cảm
thức đức độ của một bậc danh Tăng, lúc sinh thời, các
vị tôn túc trong Giáo hội Tỉnh đã cung thỉnh Ngài vào Hội
đồng Chứng minh Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Lâm Đồng. Trong
cuộc đời hành đạo, Hòa thượng là vị Cao Tăng có công
lớn trong việc xiển dương pháp môn Tịnh Độ. Sự nghiệp
sáng tác và phiên dịch của Ngài để lại cho hậu thế là
một vốn quí làm tư lương tu trì và giúp hàng hậu sinh nhận
thức sâu rộng trong giáo pháp.
Các
tác phẩm của Hòa thượng để lại:
. Kinh
Quán Vô Lượng Thọ.
.
Tịnh Học Tân Lương.
.
Lá thơ Tịnh Độ.
.
Hương Quê Cực Lạc.
.
Phật học Tinh yếu.
.
Duy Thức Học cương yếu.
.
Tịnh độ Thập nghi luận.
.
Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni.
.
Niệm Phật Thập yếu.
.
Tây phương Nhựt khóa.
.
Tịnh Độ Pháp Nghi.
.
Kinh Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni.
.
Mấy điệu sen thanh.
.
Tam Bảo Cảm ứng lục.