HÒA
THƯỢNG
THÍCH
MẬT HIỂN
(1907
- 1992)
Hòa
thượng Thích Mật Hiển, pháp danh Tâm Hương, nối pháp đời
thứ 43 dòng thiền Lâm Tế.
Ngài
thế danh Nguyễn Duy Quảng, sinh ngày 04/02/1907 (tức năm Đinh
Mùi) tại làng Dạ Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương
Thủy, tỉnh Thừa Thiên (Huế) trong một gia đình thuần túy
Phật giáo. Thân phụ là cụ Nguyễn Duy Bút và thân mẫu là
cụ Nguyễn Thị Tang.
Vốn
có thiện duyên với Phật chủng, nên năm lên 7 tuổi, Ngài
được song thân cho phép rời mái ấm gia đình xuất gia học
đạo với Hòa thượng Giác Tiên- Tổ khai sơn chùa Trúc Lâm
- Huế. Khi còn là chú tiểu, Ngài đã có cốt cách đạo phong;
tâm chí chân trực cầu tiến, Ngài sớm thấm nhuần mưa pháp
trong suốt bảy năm hầu Thầy học đạo.
Năm
1921, lúc Ngài 14 tuổi, trước sự mến mộ của vị Hoàng
Cả (tức vua Khải Định) và được Bổn sư cho phép, Ngài
theo học cùng lớp với các vương tôn công tử tại nội phủ
Hoàng gia. Sống trong cảnh cao sang Ngài vẫn không tham đắm,
ngược lại Ngài càng thiết tha với nếp sống an bần lạc
đạo của chốn Thiền môn nhàn tịnh nên sau một năm, Ngài
đã khẩn khoản xin trở về chùa.
Năm
1927, trường Phật học tại chùa Thập Tháp Di Đà tỉnh Bình
Định khai giảng, do Tổ Phước Huệ, vị cao Tăng lúc bấy
giờ làm Giáo thọ; Ngài cùng các Pháp lữ ở Huế vào đây
tham học. Trong khóa học này, Ngài rất tâm đắc về Mật
giáo.
Năm
1932, hội An Nam Phật Học được thành lập, Tổ Phước Huệ
được cung thỉnh ra Huế làm Giáo thọ cho Đại học Phật
giáo tại Phật học đường Tây Thiên, do Ngài Giác Nhiên làm
Giám đốc. Tham học lớp này, Ngài là một học Tăng được
Hòa thượng Giáo thọ chiếu cố ngợi khen.
Năm
1935, Ngài là Thủ Sa Di tại Giới đàn Phúc Lâm tỉnh Bình
Định do Tổ Phước Huệ làm Đàn đầu. Sau thời gian thọ
Đại giới, Ngài đã được Bổn sư phú pháp qua bài kệ:
Tâm
hương thế giới huân
Tùy
xử kết tường vân
Phú
nhữ tâm hương tánh
Cừ
kim chánh thị quân.
Năm
1937, Ngài được bà Từ Cung mời về cung An Định - Huế giảng
dạy Phật học cho những vị trong Hoàng tộc qui ngưỡng Phật
pháp.
Năm
1938, Ngài đảm trách trú trì Trúc Lâm thay cho Sư huynh Mật
Tín già bệnh. Năm sau đó Sơn môn và bộ Lễ cung cử Ngài
giữ chức trú trì Thánh Duyên Quốc Tự tại núi Túy Vân,
thuộc huyện Phú Lộc - Huế.
Năm
1940 - 1941, Ngài chuyên trì Mật giáo và đạt nhiều thành quả,
góp phần không nhỏ vào công việc độ sanh.
Đầu
năm 1947, sau khi Hòa thượng Phúc Hậu, trú trì Tổ đình Báo
Quốc viên tịch, Giáo Hội Tăng Già Thừa Thiên đã thành lập
Ban Quản Trị chùa gồm ba vị là: Hòa thượng Châu Lâm, Hòa
thượng Trí Thủ và Ngài, trong đó Hòa thượng Trí Thủ trực
tiếp trông coi.
Trên
bước đường hoằng dương chánh pháp, năm 1949, Ngài vào Sa
Đéc. Suốt hai năm Ngài đã tận tụy trao truyền Phật pháp
căn bản cho Tăng Ni tỉnh này.
Năm
1953, Ngài làm Trị sự trưởng Giáo Hội Tăng Già Trung Việt.
Năm 1956, Ngài dự Đại lễ Phật Đản tại Đông Hồi, trong
dịp này Ngài đã chiêm bái các Thánh tích tại Miến Điện,
Thái Lan, Ai Lao và Cao Miên. Năm 1958, Ngài cùng với các Ngài
Thiện Hoa, Thiện Minh, Tâm Châu, Đại diện Phật giáo Việt
Nam tham dự Hội Nghị Hòa Bình Thế Giới tại Nhật Bản.
Năm
1963, là Trưởng ban Tổ chức Đại lễ Phật Đản PL 2507 và
chính trong ngày lễ này, Ngài cùng chư Tôn túc phát động
phong trào chống chính sách kỳ thị Phật giáo của chính quyền
Ngô Đình Diệm. Năm 1964, Ngài tham gia đoàn Đại biểu Phật
giáo Thừa Thiên - Huế vào dự Đại hội thành lập Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tổ chức tại chùa Xá Lợi
- Sài Gòn.
Năm
1965, Ngài làm Đệ tứ Tôn chứng Đại giới đàn Vạn Hạnh
tại Tổ đình Từ Hiếu - Huế.
Năm
1967, Ngài là Giáo sư cho lớp Chuyên khoa Phật học Liễu Quán,
do Ngài Thích Mật Nguyện tổ chức tại chùa Linh Quang - Huế.
Năm 1968, Ngài được Viện Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất suy cử lên hàng giáo phẩm Hòa thượng
cùng một lúc với Ngài Trí Thủ và Ngài Thiện Hòa. Năm này,
Ngài làm Đệ ngũ Tôn chứng tại Giới đàn Hải Đức - Nha
Trang.
Trước
sự phát triển của các Phật học viện, Ngài cùng Hòa thượng
Trí Thủ và Hòa thượng Thiện Hòa thành lập Ban Bảo trợ
Phật học viện, nhằm đào tạo Tăng tài cho Phật giáo Việt
Nam. Ngài luôn quan niệm rằng Tăng đoàn là giềng mối của
Giáo Hội, và xem nhiệm vụ chăm lo Tăng sự là việc chính
yếu của đời mình.
Năm
1972, sau khi Pháp đệ của Ngài là Hòa thượng Thích Mật Nguyện
viên tịch. Ngài kiêm giữ chức trú trì chùa Linh Quang, một
cơ sở trọng yếu của Giáo Hội.
Năm
1973, Ngài được mời vào Hội đồng Giáo phẩm Viện Tăng
Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
Năm
1975, sau ngày đất nước thống nhất, Mặt trận Tổ Quốc
Việt Nam tỉnh Bình Trị Thiên đã mời Ngài tham gia vào Mặt
trận và Hội đồng Nhân dân. Vì sự nghiệp đoàn kết, Ngài
đã làm Đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh, Phó Chủ tịch
Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam tỉnh và Ủy viên Ủy
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Tại
Tổ đình Báo Quốc, các giới đàn lần lượt được tổ
chức và Ngài được cung thỉnh làm Giáo thọ, Yết ma và Đàn
đầu Hòa thượng.
Năm
1981, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam được thành lập, Đại
hội Phật giáo kỳ I đã suy cử Ngài lên chức vụ Phó Pháp
Chủ Hội đồng Chứng minh Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.
Năm
1984, những biến cố dồn dập cho Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam, Hòa thượng Thích Trí Thủ - Chủ tịch Hội đồng Trị
sự Trung ương thị tịch, tiếp Hòa thượng Thích Thanh Trí,
Trưởng ban Trị sự Giáo Hội Phật Giáo tỉnh Bình Trị Thiên
cũng viên tịch, Ngài phải đảm trách nhiệm vụ Trưởng Ban
Trị sự.
Năm
1990 Đại hội Đại biểu Kỳ I của Giáo Hội Phật Giáo Thừa
Thiên - Huế, Ngài đã được Đại hội cung thỉnh làm Trưởng
ban Trị sự kiêm Ủy viên Tăng sự.
Trong
cuộc đời tu tập, Ngài đã khéo dung nhiếp Thiền tông, Tịnh
độ và Mật giáo thành một pháp môn tổng hợp, cẩn mật
hành trì. Trên cương vị lãnh đạo, Ngài đã nêu cao tinh thần
trách nhiệm, tận tụy với mọi Phật sự.
Ngài
đã sống thật đơn giản, bình dị, tâm chí thì cương trực,
hành động thì hết lòng phụng sự Đạo pháp và Dân tộc.
Trên bước đường hoằng pháp lợi sanh, Ngài đã không từ
nan bất cứ một nhiệm vụ nào do Tăng đoàn hay Giáo hội
giao phó.
Đầu
năm 1992, linh cảm về sự ra đi của mình, nên trong ngày húy
nhật của thân sinh, Ngài đã về quê viếng mộ phần tổ
tiên để thăm lại lần cuối cùng những nấm mồ quý kính.
Sau
đó, Ngài lần lượt thăm viếng các bực Tôn túc trong Giáo
hội, chiêm bái các Tổ đình, khuyên dạy và nhắc nhủ chư
Tăng Ni và đồ chúng tinh cần tu học, phục vụ chánh pháp,
lợi lạc quần sanh. Sau hơn một tháng thị bệnh và tịnh
dưỡng, Ngài đã an nhiên thị tịch vào ngày Rằm tháng 4 năm
Nhâm Thân tại Tổ đình Trúc Lâm - Huế giữa tiếng tụng
kinh niệm Phật của chư Tăng Ni cùng môn đồ, hiếu quyến.
Ngài đã trụ thế 85 năm và gần 80 năm tu tập, phụng sự
đạo pháp. Ngài đã ra đi vào cõi tịnh lạc, đạo phong của
Ngài vẫn mãi còn với quê hương non nước và còn mãi trong
lòng Tăng Ni, Phật tử Việt Nam.