HÒA
THƯỢNG
THÍCH
THIỆN CHƠN
(1914
- 1992)
Hòa
thượng pháp danh Kiểu Lợi, pháp hiệu Ngộ Chơn, pháp tự
Thiện Chơn, thế danh Trần Thanh, sinh năm Giáp Dần (1914), tại
xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Ngài là trưởng
nam trong một gia đình trung nông Nho giáo, nhưng lại qui ngưỡng
Phật giáo. Thân phụ là ông Trần Văn Tri, pháp danh Kiểu Sanh,
thân mẫu là bà Nguyễn Thị Giận, pháp danh Quảng Thời. Khi
Ngài lên 10 tuổi thì thân phụ xuất gia, về sau người em
trai của Ngài cũng xuất gia và trú trì chùa Phước Duyên ở
xã Tân Thạch.
Khi
lên 7 tuổi, Ngài được đi học quốc ngữ ở trường làng.
Về nhà, lại được thân phụ dạy thêm chữ Nho nên Ngài
sớm có vốn Nho học. Lớn lên, Ngài có ý muốn xuất gia,
nhiều lần bày tỏ cùng thân mẫu, nhưng đều bị can ngăn,
Ngài vẫn không nhụt chí. Mãi đến năm Giáp Tuất (1934), lúc
đó Ngài tròn 20 tuổi, mới được toại nguyện.
Ngài
tìm đến chùa Vạn An ở Sa Đéc, xin quy y thọ giới với Hòa
thượng Liễu Ngọc. Nhờ sẵn có vốn Hán học, lại thêm
chí tâm tu học, Ngài sớm thông hiểu kinh tạng và được
thọ giới Cụ túc.
Năm
1937, sau khi đã học xong khóa Tiểu học Phật giáo tại chùa
Vạn An - Sa Đéc, do chi hội của Hội Lưỡng Xuyên Phật Học
tổ chức. Ngài được Bổn sư cho ra Huế theo học trường
Trung học Phật giáo tại chùa Báo Quốc trong hai năm, Ngài
luôn tỏ ra là một học Tăng xuất sắc.
Năm
1939, Ngài trở về Nam giữa lúc người Pháp ra sức đàn áp
các phong trào yêu nước, nhiều người bị bắt bớ, tra tấn
và tù đày, sinh hoạt các chùa chiền cũng bị ảnh hưởng
lớn. Ngài được Bổn sư cho về chùa Hội Phước ở Nha Mân.
Trong thời gian này, Ngài cùng tham cứu kinh điển với các
Hòa thượng Bửu Chung, Hòa thượng Phước Ân, Hòa thượng
Long An...
Năm
1940, với bản tính hiền hòa, lịch thiệp và tinh thông Phật
pháp, Ngài được Tổ Vạn An phong chức Pháp sư và làm Đốc
giáo Phật học viện Vạn An - Sa Đéc, hướng dẫn Tăng Ni
tu học hơn 100 vị.
Năm
1942, Ngài được cử làm Pháp sư giảng dạy trường Hương
ở chùa Thiên Phước, Tân Hương, Long An.
Năm
1943, Ngài liên tiếp dạy trường Hương chùa Tân Thạnh ở
huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, rồi đến chùa Linh Phong ở
Tân Hiệp.
Năm
1944, Ngài trở về quê nhà xây dựng nên ngôi chùa Vạn Phước.
Năm
1945, Ngài mở Phật học đường Bảo An ở Quới Sơn, với
số lượng Tăng Ni tới học có đến 200 vị.
Năm
1948, Ngài lại mở trường gia giáo tại chùa Tôn Thạnh, Long
An trong ba năm.
Năm
1957, Hòa thượng Thích Hành Trụ mở Phật học đường Tăng
Già và Giác Nguyên ở Khánh Hội Sài Gòn, mời Ngài đảm trách
chức vụ Pháp sư, hướng dẫn Tăng Ni tu học trong bốn năm.
Năm
1963, Ngài tham gia cùng Tăng Ni, Phật Tử trong phong trào đấu
tranh chống kỳ thị tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm.
Sau đó, Ngài về đảm trách Phật sự và dạy bảo Tăng chúng
tại chùa Hội Long ở thị xã Long An.
Năm
1965, Ngài về trú trì chùa Phước Duyên. Tại đây, Ngài dừng
chân tịnh dưỡng, tiếp tục phiên dịch kinh sách và trước
tác cho đến khi Ngài viên tịch vào ngày 15 tháng 6 năm 1992
tức rằm tháng 5 năm Nhâm Thân, hưởng thọ 78 tuổi đời,
58 tuổi đạo.
Trong
cuộc đời hoằng pháp, Ngài đã dành tâm lực và thì giờ
cho công tác phiên dịch. Các tác phẩm để lại như sau:
- Luật
Tứ Phần hiệp chú.
-
Luật Tứ Phần Tỳ Kheo Ni lược ký.
-
Tỳ Ni Hương Nhũ
-
Kinh Vạn Phật.
...
và nhiều bộ khác.
Hòa
thượng là một Pháp sư danh tiếng ở khắp miền Lục tỉnh
Nam bộ, góp phần đem pháp âm chuyển hóa nhân gian và giáo
dục thế hệ kế thừa sự nghiệp sứ giả Như Lai.