HÒA
THƯỢNG
THÍCH
HƯNG TỪ
(1911
- 1991)
Hòa
thượng Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn Anh, sinh ngày mùng
1 tháng 8 năm Tân Hợi (1911) tại làng Bình Hòa, xã An Dân,
huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sinh trong một gia đình có
truyền thống đạo Phật. Thân phụ là cụ Bùi Thế Vĩ, pháp
danh Như Chơn, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh
Thị Bửu. Từ nhỏ Ngài được song thân giáo dục trong tinh
thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của Phật, nên Ngài
sớm mộ cửa Thiền.
Duyên
lành đã đến, ngày mùng 8 tháng 2 năm Mậu Ngọ (1918), khi
vừa 8 tuổi, Ngài được song thân cho phép xuất gia đầu sư
với Hòa thượng Thích Hòa Phước trụ trì chùa Thiên Long,
được Bổn sư ban cho pháp danh Thị Lạc, thuộc đời 42 dòng
Lâm Tế Chánh Tông, chi phái Nguyên Thiều.
Nhờ
túc duyên, Ngài rất thông minh đĩnh đạc, dù còn nhỏ, từ
hai thời công phu, bốn quyển luật Tỳ Ni cho đến các bộ
kinh Địa Tạng, Thủy Sám, Ngài đều thuộc lòng. Ngoài sự
dạy dỗ của Bổn sư, Ngài còn được tham học giáo điển
với các vị cao Tăng, như Hòa thượng Từ Pháp chùa Thiên
Tôn.
Năm
1931 (20 tuổi), Ngài thọ Tam đàn Cụ túc tại Đại giới đàn
chùa Linh Sơn, do Đại lão Hòa thượng Thích Hoằng Hóa làm
đàn đầu thí giới, và được phú pháp hiệu Hưng Từ. Sau
khi thụ giới Cụ Túc xong, Ngài tiếp tục học khoa Du già
Mật tông với Hòa thượng Linh Quang và được Hòa thượng
truyền trao pháp ấn.
Năm
23 tuổi (1934), Ngài được chư Tôn túc trong hội Địa Tạng
Phổ lúc bấy giờ, giới thiệu và gởi học Tam Tạng giáo
điển tại Phật học đường Tây Thiên Huế ba năm (1934 -
1937). Nhờ tâm cầu học vững bền, chẳng những Ngài uyên
thâm kinh điển mà còn thấu triệt lẽ tánh diệu dụng của
khoa Du già Chẩn tế.
Sau
khi tham học với các bậc cao Tăng ở Huế và Phú Yên xong,
nhằm lúc phong trào chấn hưng Phật giáo đang dấy lên mạnh
mẽ trên khắp ba miền đất nước, Ngài nhận thấy đây là
một cơ duyên thuận lợi để phục hưng chánh pháp.
Năm
1937, Ngài vận động Tăng tín đồ mở các Tăng học đường
tại các chùa Cổ Lâm, Liên Trì (Tuy An), Thiên Từ (Ninh Hòa)
để đào tạo Tăng tài. Đặc biệt tại chùa Cổ Lâm có nhiều
vị đến nghe giảng kinh Pháp Hoa như: Hòa thượng Quảng Đức,
Ngài Vĩnh Thọ, Nhơn Thị, Nhơn Duệ... do Ngài làm chủ giảng.
Năm
1939, vì ảnh hưởng chiến tranh nên các Tăng học đường
này tạm thời đóng cửa, nhưng Ngài luôn tìm mọi cách tổ
chức các lớp tu học, giảng kinh luật dưới hình thức an
cư kiết hạ, mở Đại giới đàn ở các tỉnh Phú Yên, Khánh
Hòa, Bình Thuận, Bình Tuy để đào tạo các bậc cao Tăng hữu
ích cho đạo sau này như các Hòa thượng Ấn Tâm, Viên Quang,
Đồng Huy... và giảng dạy khoa Du già Chẩn tế cho chư Tăng
ở các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận...
Ngoài
việc giảng dạy, đào tạo Tăng Ni, Ngài còn đem hết sức
mình khai sơn và trùng tu rất nhiều ngôi chùa để có nơi
tu học cho Tăng Ni và sớm hôm lễ bái của Phật tử gần
xa như: chùa Thiên Long ở Phú Yên (1938); Tổ đình Minh Sơn
(1957); Linh Đài và Thiên Tứ ở Ninh Hòa (1959). Đồng thời
khai sơn Linh Sơn Tự ở Lạc Tánh, ở Tánh Linh (1961) và chùa
Pháp Hội ở Hàm Tân - Bình Thuận (1967).
Trong
suốt cuộc đời tu học và hành đạo, Ngài không từ nan bất
cứ một nhiệm vụ nào khi được chư Tăng và Giáo hội giao
phó cũng như Phật tử cần đến. Đối với dân tộc, Ngài
luôn đem hết sức mình góp phần vào công cuộc bảo vệ quê
hương.
Năm
1945, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Ngài được Tăng
tín đồ đề cử làm Chủ tịch Hội Phật giáo Cứu quốc
tỉnh Phú Yên.
Năm
1955, Ngài đảm nhận Trị sự trưởng Giáo hội Tăng già tỉnh
Khánh Hòa liên tiếp hai nhiệm kỳ.
Năm
1963-1964, Ngài lãnh đạo phong trào đấu tranh bảo vệ Phật
giáo và dân tộc tỉnh Bình Tuy (Hàm Tân).
Năm
1964-1978, Ngài được Hội đồng Viện Hóa Đạo Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất suy tôn vào Hội đồng Trưởng
lão Viện Tăng Thống.
Từ
năm 1982 cho đến ngày viên tịch, Ngài được suy tôn Cố vấn
Chứng minh kiêm Ủy viên Tăng sự Ban Trị Sự Tỉnh Hội Phật
Giáo Thuận Hải (cũ) và Bình Thuận sau này.
Ngài
đã dịch bộ kinh Thập Lục Quán, và trước tác quyển lịch
sử Tổ Hữu Đức (Tổ Linh Sơn Trường Thọ núi Tà Cú) và
chư hậu Tổ.
Cuộc
đời tu hành và hóa đạo của Ngài là tấm gương hy sinh tận
tụy, không từ nan bất cứ một việc gì dù nhỏ, đem hết
sức mình để giáo dục, đào tạo Tăng Ni tiếp dẫn hậu
lai hoằng truyền chánh pháp.
Dù
tuổi già sức yếu, nhưng Ngài vẫn tinh tấn tu hành không
một phút giây trễ nải, và phục vụ chúng sinh đến giây
phút cuối cùng. Ngày mùng 2 tháng 8 năm Tân Mùi (1991), Hòa
thượng an nhiên thị tịch, hưởng thọ 80 tuổi, với 60 pháp
lạp. Bảo tháp của Ngài tọa lạc trong khuôn viên chùa Pháp
Hội, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.