HÒA
THƯỢNG
THÍCH
BỬU HUỆ
(1914
- 1991)
Hòa
thượng thế danh là Nguyễn Văn Ba, pháp danh Tâm Ba tự Nhựt
Quang, pháp hiệu Bửu Huệ thuộc đời thứ 41 dòng Lâm Tế
(chữ Nhựt), đời thứ 43 thuộc phái Thiên Thai (chữ Tâm),
sinh năm Giáp Dần (1914) tại xã Tân Hương, huyện Bến Tranh,
tỉnh Định Tường, nay là tỉnh Tiền Giang. Thân phụ là cụ
Đặng Văn Cử, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Thu. Ngài theo
họ mẹ và là con thứ trong gia đình có hai anh em.
Năm
lên 7, Ngài được theo học trường Pháp - Việt đến hết
bậc Tiểu học. Vốn thuộc gia đình giàu lòng kính tin Tam
Bảo, Ngài thường theo mẹ đi chùa lễ Phật ở nhiều nơi,
và quy y Tam Bảo tại chùa Thiên Thai - Bà Rịa, được Hòa
thượng Huệ Đăng ban pháp danh là Tâm Ba. Lớn lên, Ngài thường
tới chùa lễ Phật nghe pháp, cảm nhận được lẽ vô thường
tan hợp, sinh tử chia ly, và có ý muốn tìm học đạo giải
thoát.
Năm
1938 (Mậu Dần), Ngài tìm đến thọ giáo với Hòa thượng
Pháp Long thuộc dòng Lâm Tế, trú trì chùa Thiên Phước tại
Tân Hương. Ngài được Bổn sư chỉ dạy kinh Phật và cho
đọc các tạp chí Phật học như Từ Bi Âm, Duy Tâm, Viên Âm,
Đuốc Tuệ v.v... Nhờ đó hạt giống bồ đề nơi Ngài ngày
càng tăng trưởng.
Năm
1944 (Giáp Thân) lúc 30 tuổi, Ngài chính thức xuất gia tại
chùa Thiên Phước. Tám tháng sau, ở chùa Long Quang tỉnh Vĩnh
Long mở giới đàn, Ngài được Bổn sư cho đến thọ giới
Sa Di.
Năm
1946, hai Hòa thượng Trí Tịnh và Thiện Hoa mở Phật học
đường tại chùa Phật Quang, vùng rạch Bang Chang quận Trà
Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Ngài tới theo lớp Sơ đẳng Phật học
2 năm.
Bấy
giờ chiến tranh Pháp - Việt xảy ra khắp thôn quê. Chùa Phật
Quang nằm trong vùng mất an ninh. Hòa thượng Trí Tịnh phải
lên Sài Gòn mở Phật học đường Liên Hải đặt tại chùa
Vạn Phước xã Bình Trị Đông, cách Chợ Lớn 5 Km. Ngài cùng
một số huynh đệ đã mãn lớp Sơ đẳng Phật học tại chùa
Phật Quang, cùng lên đây theo học.
Năm
Ngài 35 tuổi (1949), Phật học đường Liên Hải mở Đại
giới đàn, Ngài được Ban Giám đốc cho đăng đàn thọ Cụ
Túc giới.
Cùng
thời gian, Phật học đường Mai Sơn được thành lập, đặt
tại chùa Sùng Đức - Chợ Lớn, do Thượng Tọa Huyền Dung
chủ giảng. Sau mùa an cư 1949, Hòa thượng Trí Hữu cắm đất
lập chùa Ứng Quang ở đường Lorgeril (nay là đường Sư Vạn
Hạnh) và thành lập ở đây một Phật học đường. Năm 1950,
do sự giúp sức vận động của các Hòa thượng Nhật Liên
và Thiện Hòa, ba Phật học đường trên đây nhập chung lại
và gọi là Phật Học Đường Nam Việt, đặt tại chùa Ứng
Quang, sau đổi tên là Ấn Quang. Ngài và các Tăng sinh ba trường
trở thành Tăng sinh Phật Học Đường Nam Việt.
Lúc
này, ngoài số học Tăng cũ, còn có nhiều học Tăng từ các
tỉnh và Phnôm - Pênh đến học, tổng số đến 100 vị. Ngài
tiếp tục là học Tăng của trường. Năm 1951 Ngài hoàn tất
chương trình Trung cấp Phật học. Đến năm 1954 Ngài hoàn
tất chương trình Cao đẳng Phật học với các vị đồng
khóa như Ngài: Huệ Hưng, Thiền Tâm, Tắc Phước, Bửu Đạt,
Tịnh Đức, Tịnh Chơn v.v...
Trong
thời gian theo học lớp Cao đẳng, Ngài là học Tăng cao tuổi
nhất, được Ban giám đốc cho tham gia việc điều hành sinh
hoạt của đại chúng với chức vụ Tri Sự. Ngoài ra, Ngài
còn cùng các Tăng hữu tham gia công tác giảng dạy cho lớp
Sơ đẳng, phụ trách môn văn. Sau khi tốt nghiệp ra trường,
Ngài cùng Hòa thượng Thiền Tâm xin Ban Giám đốc cho về quê
ẩn tu tịnh nghiệp trong một thời gian dài đúng với sở
nguyện và hứa sẽ trở lại gánh vác Phật sự để đền
ơn Tam Bảo.
Suốt
thời gian 10 năm, Ngài ở yên trong tịnh thất Nam Tuyền- Long
An, cắt đứt với cảnh đời bận rộn, bế môn từ khách,
chuyên tâm tụng kinh sám hối, trì chú, tĩnh tọa tham thiền
theo đúng thời khắc biểu đã ấn định, không thay đổi.
Sau
Pháp nạn 1963, Phật giáo trở lại sinh hoạt bình thường,
và chuẩn bị cho một sự hợp nhất sau quá trình đấu tranh
chống lại sự đàn áp tôn giáo. Năm 1964, Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành lập. Nhiều công tác
Phật sự mới được đặt ra. Nhu cầu đào tạo những vị
Như Lai Sứ Giả tài đức lại càng cấp thiết. Chùa Ấn Quang
trở thành văn phòng Viện Hóa Đạo. Hòa thượng Thích Thiện
Hoa là Trưởng ban Hoằng pháp, quyết định dời Phật học
viện vào An Dưỡng Địa (Phú Lâm). Nơi đây yên tĩnh, tiện
cho việc tu học của Tăng sinh.
Cơ
duyên phục vụ đạo pháp của Ngài đã đến. Trong phiên họp
ngày 4-2-1964 tại chùa Ấn Quang, Hòa thượng Thiện Hòa và
Hòa thượng Thiện Hoa nhất trí cử Ngài Thanh Từ đến tịnh
thất Nam Tuyền xã Tân Hương mời Ngài, và đi Bến Tre mời
Ngài Thiền Tâm, đồng xả thất lên Sài Gòn chung lo Phật
sự.
Ban
Giám đốc Phật Học Đường Ấn Quang giao trách nhiệm cho
quý Ngài thành lập trường Trung đẳng Phật học Chuyên khoa
đặt tại chùa Huệ Nghiêm với gần 40 học Tăng. Ngài được
cử làm Giám Viện, Hòa thượng Thiền Tâm làm Giáo thọ. Hòa
thượng Thanh Từ làm Quản viện. Đồng thời Ni trường Dược
Sư ở Gia Định cũng được khai giảng, đặt dưới sự lãnh
đạo kiêm nhiệm của ba vị.
Trong
phiên họp ngày 4-5-1965 tại chùa Ấn Quang giữa Ban Giám đốc
với Tổng vụ Tăng sự và Phật Học vụ, trường Trung Đẳng
Phật học Chuyên khoa được đổi thành Phật Học Viện Huệ
Nghiêm, nhận thêm khoảng 300 Tăng sinh vào tu học, gồm các
trình độ từ Đệ thất (lớp 6) đến Đệ nhất (lớp 12)
theo chương trình phổ thông. Ngài vẫn giữ chức Giám viện.
Đến
năm 1968, Phật học viện gặp khó khăn về tài chánh, phải
phân tán Tăng sinh tới các Phật học viện Hải Đức ở Nha
Trang, Liễu Quán ở Phan Rang, Bảo Tịnh ở Phú Yên, Nguyên
Thiều ở Bình Định. Phật học viện Huệ Nghiêm chỉ duy
trì một lớp Trung đẳng Chuyên khoa khóa II. Cũng năm ấy,
thể theo lời mời của Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Văn Hóa
Giáo Dục, Ngài đảm nhiệm luôn chức vụ phụ tá Vụ trưởng
Phật học vụ, đặc trách chỉ đạo các Phật học viện
Bắc Tông tại các tỉnh miền Nam.
Năm
1970 Đại hội Văn hóa Giáo dục kỳ IV họp tại Đà Lạt,
Giáo Hội quyết định thành lập một Viện Cao Đẳng Phật
Học đặt tại chùa Huệ Nghiêm suy cử Hòa thượng Trí Tịnh
làm Viện trưởng, Ngài làm Phó Viện trưởng. Ngài cũng trực
tiếp tham gia giảng dạy bộ môn Luận cho Tăng Ni sinh ở hai
trường Huệ Nghiêm và Dược Sư.
Cuối
năm 1974, Hòa thượng Thiện Hòa đau yếu phải vào bệnh viện,
bèn làm giấy ủy quyền cho Ngài trọn quyền quản lý các
cơ sở trực thuộc Tổ đình Ấn Quang như hãng vị trai Lá
Bồ Đề, cô nhi viện Diệu Quang. Ngài lại được Hội đồng
Quản trị chùa Ấn Quang cử làm Phó đổng lý. Ngoài ra Ngài
còn được cử làm Trưởng ban Quản trị để duy trì cơ sở
Huệ Nghiêm cho đến ngày viên tịch.
Về
công đức khai đàn truyền giới, năm 1965, Ngài làm Trưởng
ban tổ chức và Giáo thọ giới đàn Sa Di tổ chức tại chùa
Huệ Nghiêm. Năm 1966 Ngài lại làm Trưởng Ban tổ chức Đại
giới đàn Tỳ Kheo, Bồ Tát miền Quảng Đức cũng tổ chức
tại chùa Huệ Nghiêm. Năm 1968 Ngài được cung thỉnh làm Giáo
thọ tại Đại giới đàn Hải Đức ở Nha Trang. Năm 1969 Ngài
lại được cử làm Trưởng Ban tổ chức Đại giới đàn
Tỳ Kheo, Bồ Tát lần thứ 2 tại chùa Huệ Nghiêm.
Sau
ngày 30-4-1975 hoạt động của Phật giáo chuyển qua hoàn cảnh
mới. Ngài hướng dẫn chư Tăng nhập thất tĩnh tu tại bản
viện theo phương pháp và kinh nghiệm mà Ngài đã thực hành
trong 10 năm (1954-1964).
Trong
những năm chiến tranh, Ngài phải lánh cư nhiều nơi, nhiễm
phải bệnh sốt rét. Lúc về già, bệnh tái phát khá nặng.
Ngài bàn giao việc quản trị viện cho các đệ tử, chỉ làm
cố vấn. Vào lúc 2 giờ ngày 27 tháng 10 Tân Mùi (02-12-1991),
Ngài viên tịch tại chùa Huệ Nghiêm, hưởng thọ 78 tuổi
đời và 42 hạ lạp.