HÒA
THƯỢNG
THÍCH
TÂM NGUYỆN
(1917
- 1990)
Hòa
thượng pháp danh Tâm Nguyện, thế danh là Phạm Văn Quý, sinh
ngày 23 tháng chạp năm Bính Thìn (16-1-1917) tại xã Bình Nghĩa,
huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Ngài là con thứ ba trong một
gia đình Nho giáo. Thân phụ là cụ đồ Phạm Đình Giá, thân
mẫu là cụ bà Trần Thị Ấm.
Gia
đình tuy theo Nho học nhưng lại có đạo tâm hướng về Phật
giáo. Lúc nhỏ Ngài được cha mẹ cho đi chùa lễ Phật, nghe
giảng kinh pháp, Ngài sớm nhận ra thân người là giả tạm,
năm uẩn đều không. Do đó, Ngài có ý xuất gia đầu Phật.
Năm
17 tuổi (1934), được song thân chấp thuận, Ngài đến chùa
Bảo Khám thôn Tế Xuyên, xã Đức Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh
Hà Nam, đảnh lễ cầu Tổ đệ tứ là Hòa thượng Thích Doãn
Hài, xin được xuất gia học đạo. Ngài được Tổ thu nạp
làm đệ tử và cho thế phát quy y.
Năm
18 tuổi (1935), Ngài được Bổn sư trao truyền thập giới
tại chùa Bảo Khám (Tế Xuyên) và được ban pháp danh Tâm
Nguyện. Bấy giờ phong trào chấn hưng Phật giáo nở rộ trên
miền Bắc. Hội Bắc Kỳ Phật Giáo được thành lập. Báo
Đuốc Tuệ, cơ quan truyền bá đạo Phật của hội được
xuất bản. Hai Phật học đường được hội mở tại chùa
Quán Sứ ở Hà Nội và chùa Bồ Đề ở Gia Lâm. Ngài được
Bổn sư cho lên Hà Nội theo học tại các Phật học đường
này. Ngài luôn tỏ ra là một học Tăng đạo hạnh, tinh tấn
tu hành.
Năm
22 tuổi (1939), sau ba năm tu học tinh cần, Ngài được đăng
đàn thọ Tỳ Kheo giới tại Đại giới đàn ở chùa Quán
Sứ, trụ sở của Hội Bắc Kỳ Phật Giáo do Tổ Trung Hậu
là Hòa thượng Chân Như làm Đàn đầu Hòa thượng. Hòa thượng
Trung Hậu bấy giờ là Giám đốc Phật học đường Bằng
Sở ở Hà Nội, còn Hòa thượng Trung Thứ là Đốc giáo và
Hòa thượng Tuệ Tạng là Phó đốc giáo kiêm giáo sư luật
học. Đến năm 1940 Hòa thượng Trung Thứ viên tịch, qua năm
sau, 1941, đến lượt Hòa thượng Trung Hậu. Do đó, Hòa thượng
Tuệ Tạng phải đảm trách luôn cả chức Giám đốc lẫn
Đốc giáo để điều hành Phật học đường Bằng Sở. Từ
đó, Ngài theo Hòa thượng Tuệ Tạng để tu học và đã trở
nên một trong những học trò xuất sắc của Tổ.
Năm
1943, Ngài được Tổ Thiện Bản trú trì chùa Cao Đà chỉ
định làm đương gia. Từ năm 1946 đến năm 1950, tuy Ngài theo
học tại Phật học đường Quán Sứ, nhưng vẫn phụng mệnh
Tổ Cao Đà làm trú trì trực tiếp chùa Thượng Nông và Lý
Nhân.
Năm
1954, sau hiệp định Genève, Hòa thượng Tuệ Tạng rời chùa
Quán Sứ cùng đệ tử lui về chùa Vọng Cung ở xã Quần Phương
tỉnh Nam Định. Trong số đệ tử theo Tổ về đây có Ngài.
Ngày 10-5-1959, Hòa thượng Tuệ Tạng viên tịch tại đây.
Trước khi trở về cõi Phật, Hòa thượng Tuệ Tạng đã ủy
thác cho Ngài cùng với Hòa thượng Thích Tâm Thông cùng trú
trì chùa Vọng Cung. Từ đó Ngài cùng các Tăng hữu tiếp tục
sự nghiệp hoằng hóa lợi sanh, mà chư Tổ đã dày công xây
đắp. Ngài mở trường dạy Tăng Ni hậu tiến tu học và truyền
giảng Phật pháp cho thập phương tín hữu.
Trong
thời gian làm trú trì chùa Vọng Cung, Ngài vẫn dành thì giờ
cùng với Tăng Ni sơn môn Tế Xuyên trông nom Tổ đình, đồng
thời giữ chức thủ tọa chùa Bồ Đề ở Gia Lâm.
Năm
1983, Ngài cùng Tăng Ni tín đồ xây dựng lại chùa Vọng Cung
được khang trang, tạo nơi đây thành một chốn già lam ở
thành Nam.
Ngoài
việc phụng sự đạo pháp, Ngài còn đóng góp công sức vào
các công tác từ thiện xã hội. Từ năm 1981 đến năm 1984,
Ngài là Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và Đại biểu
Hội đồng Nhân Dân phường Trần Hưng Đạo. Năm 1984, Ngài
là Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và Đại biểu Hội
đồng Nhân dân Thành phố Nam Định khóa 9.
Ngày
13-8-1990 vào lúc 17 giờ, Ngài đã an nhiên thị tịch, hưởng
thọ 74 tuổi đời, 51 hạ lạp. Suốt cuộc đời từ lúc thiếu
thời cho đến giờ phút cuối, Ngài luôn luôn tâm nguyện:
“Hoằng pháp vi gia vụ, độ sinh vi sự nghiệp” mà chư Tổ
đã căn dặn. Ngài thường lãnh nhiệm vụ giảng sư trong các
khóa hạ và chủ hạ nhiều năm tại trường hạ chùa Cả
ở Nam Định. Ngài còn được mời làm Đàn đầu Hòa thượng,
Yết Ma, Giáo Thọ tại nhiều giới đàn tại địa phương.
Tầng lớp Tăng Ni trung, hạ, tọa tại tỉnh Nam Hà hiện nay,
hầu hết là học đồ, giới tử do chính Ngài dạy bảo. Cuộc
đời của Ngài là tấm gương sáng cho hàng Phật tử xuất
gia cũng như tại gia noi theo trên bước đường tu học vậy.