HÒA
THƯỢNG
THÍCH
BỬU LAI
(1901
- 1990)
Hòa
thượng pháp danh Thích Bửu Lai, pháp hiệu Giác Hòa. Thế danh
Lê Văn Tồn, sinh năm 1901 (Tân Sửu) tại Sa Đéc, tỉnh Đồng
Tháp.
Ngài
sinh trong một gia đình trung lưu, phúc hậu, thấm nhuần Nho
giáo đồng thời hết lòng kính tin Tam Bảo. Cụ thân sinh là
ông Lê Văn Hưởng và thân mẫu là bà Lê Thị Thiềm. Gia đình
có bốn chị em (3 nữ 1 nam), Ngài là người con thứ ba và
cả thảy bốn người đều xuất gia tu học. Hai chị là Tỳ
kheo Ni Diệu Chánh, Diệu Lý trụ trì chùa Long Đức - Sa Đéc
(đã viên tịch). Người em gái còn lại là Tỳ kheo Ni Diệu
Ngọc, trụ trì chùa Long An, Xóm Củi - Sa Đéc, tỉnh Đồng
Tháp.
Vừa
lên 6 tuổi, Ngài được song thân cho vào trường tư thục
học chữ Nho và quốc ngữ. Năm lên 7 tuổi được vào trường
công học tiếp những chương trình phổ thông cần thiết thời
bấy giờ. Bản tánh hiền hậu sống chan hòa và tư chất thông
minh đã bộc lộ, nên Ngài được thầy giáo và bạn bè quý
mến.
Năm
15 tuổi, Ngài thọ tam quy ngũ giới tại chùa Long Hòa với
Hòa thượng Thích Thiện An, ở xã Ngãi Sơn, huyện Trà Cú,
tỉnh Trà Vinh. Năm 18 tuổi (1919), cha mẹ Ngài đều qua đời,
để lại mấy chị em phải tự đùm bọc lấy nhau. Không lâu
sau đó, nhận thấy các chị mình cơ cực vì sinh kế, nên
Ngài đành bỏ dở việc học với nhiều nuối tiếc, hầu
phụ giúp các chị trong sinh hoạt hằng ngày. Khi vừa mãn tang
mẹ ba năm, nhớ lời trối trăn của mẹ là phải lấy vợ
để nối dõi tông đường. Hơn nữa Ngài là con trai duy nhất,
lại luôn hiếu thảo, Ngài quyết định lập gia đình đúng
vào năm 20 tuổi.
Năm
1922, Ngài thi vào ngành Thư ký Bưu Điện Đông Dương và được
cử làm việc tại Sài gòn. Sống giữa nơi phồn hoa đô hội
đầy cám dỗ đời thường, nhưng đây chính là nơi có đầy
đủ kinh sách để Ngài tham cứu về Phật giáo. Năm 23 tuổi,
nhờ được đọc 2 quyển “Tây Quy Trực Chỉ” của tác
giả Trần Phong Sắc và quyển “Lão Nhơn Đắc Ngộ” của
tác giả Mạch Quốc Thoại, Ngài phát tâm, dành ra nhiều thời
gian để nghiên cứu và tu pháp môn Tịnh độ. Từ đó, Ngài
thực hành ba thời khóa tu tập mỗi ngày: đầu hôm lạy sám
hối tiêu nghiệp và 12 câu nguyện Di Đà, giữa đêm ngồi
niệm Phật công cứ, sáng trì chú Lăng Nghiêm. Đó là duyên
khởi đầy tích cực cho hành trình giải thoát của Ngài.
Năm
23 tuổi, Ngài được đổi về tỉnh nhà, làm Trưởng ty Bưu
điện và Ngân khố. Được gần gũi gia đình nên việc tu
trì tại gia và nghiên cứu Phật học càng có cơ duyên thuận
lợi. Ngài chủ xướng thành lập Tỉnh Hội Phật Học Sa Đéc,
rồi xây cất chùa Hội Quán. Ở cương vị Hội trưởng, Ngài
đã làm được rất nhiều điều hữu ích cho đạo pháp tại
bản tỉnh trong năm năm liền (1924-1929).
Sau
32 năm lăn lộn giữa trường đời, suy gẫm và rút ra được
những giá trị đích thực của chân lý vĩnh hằng, Ngài quyết
định xin về hưu sớm. Sau hai tháng sắp xếp việc gia đình,
Ngài bắt đầu bước vào nẻo đạo bằng cả thân và tâm.
Ngày
rằm tháng 11 năm Ất Mùi (1955), Ngài xuất gia học đạo tại
Tổ đình Ấn Quang (đã 54 tuổi). Biết mình xuất gia muộn
nên Ngài dốc lòng tinh tấn, đồng thời nhờ vào ân đức
của chư Tổ Khánh Anh, Tổ Huệ Quang, các bậc Tôn túc như
Hòa thượng Viện Trưởng Thích Thiện Hoa, Hòa thượng Giám
đốc Phật học đường Nam Việt Thích Thiện Hòa... đã trợ
duyên cho Ngài an vui tu học. Do đó một năm sau Ngài đã được
thọ Sa Di giới, và được Chư tôn túc đặc cách cho thọ
Tỳ Kheo và Bồ Tát giới. Sau đó Ngài xin phép Tổ Khánh Anh
chứng minh lời nguyện kiết thất để tĩnh niệm đồng thời
nghiên cứu hai bộ kinh Di Đà Sớ Sao và Quy Nguyên Trực Chỉ.
Năm
1957, Ngài được tham dự khóa huấn luyện trụ trì tại chùa
Pháp Hội (quận 10, Sài gòn). Sau khi mãn khóa, Ngài được
Giáo Hội bổ nhiệm trụ trì chùa Phước Hòa, tỉnh Trà Vinh,
nơi này cũng là Phật Học Viện đào tạo Tăng tài cho Phật
giáo.
Năm
1958, Ngài trở lên Sài gòn tham dự khóa Như Lai Sứ Giả để
hoằng truyền chánh pháp theo triệu tập của Giáo hội. Đoàn
Như Lai Sứ Giả sau khi bế giảng đã thành lập một lực
lượng nòng cốt gồm chư Thượng tọa Trường Lạc, Trí Châu,
Nhựt Long, Quang Minh, Thiện An, Hiển Pháp, Pháp Siêu... và được
chia thành hai đoàn. Ngài làm trưởng đoàn 1, có trách nhiệm
đi diễn giảng các tỉnh từ miền Đông như Biên Hòa, Vũng
Tàu, Long Điền, Đà Lạt đến các tỉnh miền Tây như An Giang,
Châu Đốc, Vĩnh Bình, Bến Tre, Mỹ Tho, Sa Đéc, Vĩnh Long...
Năm
1959, Giáo Hội Tăng Già Nam Việt cử Ngài giữ chức vụ Tổng
Thư ký, kiêm Thủ quỹ Giáo Hội. Đây là chức vụ quan trọng
và là bước ngoặt đầu tiên để Ngài bắt đầu những trách
nhiệm mới.
Năm
1962, Ngài được mời vào Ban Giám đốc Phật Học Đường
Nam Việt - chùa Ấn Quang, với chức vụ Giám Viện.
Năm
1963, trong thời kỳ Pháp nạn, Ngài cũng như các vị Tôn đức
khác đấu tranh đòi sự bình đẳng tôn giáo. Trong đợt khủng
bố tấn công vào các chùa ngày 30.5.1963, Ngài đã bị bắt
giam tại trại Nguyễn văn Phú, Bình Đông - Chợ Lớn cùng
với các vị Hòa thượng khác. Sau khi được thả ra, sức
khỏe đã sa sút, Ngài phải về an dưỡng tại Niệm Phật
Đường Quảng Đức - Cần Thơ.
Năm
1964, Ngài được Giáo Hội bố trí công việc phù hợp sức
khỏe là Giáo sư Phật Học Viện Phước Hòa kiêm trụ trì.
Đây là lần thứ hai Ngài trở lại chùa cũ. Không lâu sau
đó, khi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành
lập, Ngài lại được cung thỉnh trở lại Sài Gòn để nhận
nhiệm vụ Phó Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Tài Chánh.
Năm
1966, do yêu cầu Phật sự, Ngài được cử đảm nhiệm chức
vụ Chánh đại diện miền Huệ Quang (gồm các tỉnh Sa Đéc,
Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, Mỹ Tho, Gò Công). Văn phòng được
đặt tại chùa Kim Liên - Mỹ Tho.
Thượng
tuần tháng 11.1969, Ngài có dịp cùng Chư Tôn đức khác đi
thăm các nước Đại thừa Phật giáo như Nhật Bản, Đài
Loan, Hồng Kông.
Năm
1971, Ngài cùng hai Thượng tọa Thiền Tâm và Bửu Huệ lên
Đại Ninh - Lâm Đồng xây dựng Hương Nghiêm Tịnh Viện, mở
các khóa tu tập Tịnh độ cho Tăng Ni sinh chuyên tu. Trong bốn
năm với vai trò “Liên Hạnh”, Ngài đã đạt được nhiều
kết quả như sở nguyện. Năm 1974, sau căn bệnh đột ngột,
sức khỏe Ngài sa sút nhiều. Do đó, khi rời Bệnh viện Đà
Lạt, Ngài phải lui về an dưỡng tại Niệm Phật Đường
Quảng Đức. Mọi việc ở Hương Nghiêm Tịnh Viện đều ký
thác cho Hòa thượng Thiền Tâm đảm nhiệm.
Sau
năm 1975, Ngài được tín nhiệm mời làm Cố vấn cho Ban Liên
lạc Phật giáo Yêu nước Thành phố Cần Thơ và được mời
làm Ủy viên danh dự Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Hậu
Giang và Thành phố Cần Thơ.
Năm
1978 đến 1984, Ngài được bầu vào Chủ tịch đoàn Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam Thành phố Cần Thơ với chức vụ Phó Chủ
Tịch, liên tiếp trong 3 nhiệm kỳ liền.
Năm
1983, Ban Trị Sự Phật Giáo tỉnh Hậu Giang và Ban Đại Diện
Phật Giáo Thành phố Cần Thơ thành lập, Ngài được suy cử
ngôi vị Chứng minh Ban Trị sự và kiêm Ủy viên Hoằng pháp
Giáo Hội tỉnh.
Năm
1989, Trường Cơ bản Phật học tỉnh Hậu Giang khai giảng,
Ngài giữ chức vụ Hiệu trưởng kiêm giáo thọ các môn luật
tạng và kinh tạng. Ngày 28.11.1988 Ngài được Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam tấn phong Hòa thượng và giữ chức chứng minh
Ban Trị Sự Tỉnh Hội Phật Giáo tỉnh Hậu Giang.
Ngày
8.12.1990 Ngài được Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam tặng huy chương “Vì sự nghiệp Đại đoàn kết
dân tộc” nhân kỷ niệm 60 năm thành lập.
Ngài
cũng đã từng được cung thỉnh làm giới sư trong nhiều giới
đàn như: Giới đàn chùa Phổ Minh, Giới đàn chùa Kim Liên
(Mỹ Tho), Giới đàn chùa Khánh Quang (Cần Thơ) v.v...
Ngài
có năng khiếu về thơ văn, đã từng lấy bút hiệu Thượng
Đức trong Tao Đàn Tây Đô thời kỳ chưa xuất gia. Do đó
khi làm công tác hoằng hóa, diễn giảng sau này, để kết
thúc và cô đọng tinh ý bài giảng, Ngài thường hay dùng thơ
để kết luận.
Năm
1990, Ngài đã 90 tuổi, sức lực có hao mòn theo thời gian nhưng
trí tuệ vẫn minh mẫn. Trong những ngày tháng cuối đời này,
Ngài đã dạy bảo rất nhiều điều hữu ích, vẫn duy trì
nếp sống đều đặn thường ngày và không hề xao lãng công
tác Phật sự.
Những
ngày đầu hạ của năm cuối cùng này, Ngài còn đến chùa
Khánh Quang làm Thiền chủ cho Khóa hạ tại đây do Ban Trị
sự tỉnh tổ chức. Ngài còn kiêm luôn công việc giảng huấn.
Buổi chiều hôm ấy Ngài lại đến chùa Bảo An để chứng
minh lễ tác pháp của chư Ni. Khi về, Ngài đã lâm bệnh trầm
trọng, nhưng tối đến, Ngài vẫn gắng gượng ngồi đọc
cho thư ký riêng ghi chép tham luận chuẩn bị cho một cuộc
hội thảo chống mê tín, dị đoan sắp đến. Đó là những
cố gắng cuối cùng của đời Ngài.
Ngày
24.10 năm Canh Ngọ (10.12.1990) Ngài viên tịch, sau 90 năm trụ
thế, được 34 hạ lạp để lại nhiều lợi ích cho Đạo
pháp - Dân tộc của một bậc truyền thừa dòng Lâm Tế, đời
thứ 40.
Về
phương diện trước tác, phiên dịch, Ngài đã để lại những
tác phẩm như:
- Khuyến
phát Bồ Đề tâm văn (dịch).
-
Các bài văn giác thế.
-
Thiền môn trường hàng luật (duyệt xét, giảo chính).
-
Ý nghĩa nghi thức tụng niệm (sưu tập).
-
Sưu tập giảng luận giáo lý (39 bài).