HÒA
THƯỢNG
THÍCH
HUỆ HƯNG
(
1917 - 1990 )
Hòa
thượng Thích Huệ Hưng, húy Ngộ Trí thuộc dòng thiền Lâm
Tế đời thứ 39, là đệ tử Sư tổ Vạn An (Sa Đéc ).
Ngài
thế danh là Nguyễn Thanh Chẩm, sanh năm Đinh Tỵ (1917) tại
làng Mỹ Tho, quận Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Thân phụ là
cụ Nguyễn Minh Biện, pháp danh Minh Chiếu, thân mẫu là cụ
Trần Thị Mậu pháp danh Diệu Thiệt. Năm 62 tuổi, cụ bà
xuất gia thọ giới Sa Di Ni.
Là
con trưởng trong gia đình gồm bảy anh em, Ngài dìu dắt các
bào đệ bước vào lộ trình giải thoát như :
1/
Thượng tọa Thích Huệ Viên, trụ trì chùa Sơn Bửu (Vũng
Tàu ).
2/
Thượng tọa Thích Minh Cảnh, trụ trì tu viện Huệ Quang.
3/
Ni Sư Thích Nữ Như Trí (đã viên tịch năm 1978).
4/
Ni Sư Thích Nữ Như Diệu, trụ trì tu viện Diệu Đức, Quận
Bình Thạnh.
Vốn
sanh trong gia đình trung lưu phúc hậu, nhiều đời kính tín
Tam Bảo, sâu trồng ruộng phước Tăng già, Ngài sớm nhận
thức cảnh trần gian ảo mộng, cuộc đời giả huyễn vô
thường. Ngài đến núi Sập để tìm nơi tu dưỡng, hằng
ngày lo niệm Phật tụng kinh. Cơ duyên hội đủ, Ngài được
Tổ Vạn An (Sa Đéc) cho thế phát năm 1938, lúc ấy Ngài vừa
tròn 21 tuổi.
Năm
1942, Tổ Vạn An khai đàn trao giới, Ngài chính thức thọ Sa
Di. Vốn thông minh sẵn có và lòng khát ngưỡng Đại Thừa,
ngày đêm Ngài tinh tấn tu hành, lo phụng trì chánh giới.
Năm
1943, Tổ Vạn An biết Ngài là bậc pháp khí Đại Thừa, xứng
đáng ngôi Long Tượng của Phật pháp bèn quyết định cho
thọ Tỳ Kheo Bồ Tát Giới tại chùa Viên Giác ở Vĩnh Long.
Sau đó ở lại chùa này học kinh luật trong mười tháng rồi
qua chùa Phước Duyên ở Mỹ Tho tu học cho đến năm 1945, Ngài
vào học tại Phật Học Đường Lưỡng Xuyên - Trà Vinh được
6 tháng. Vì tình hình chiến sự trong nước, Ngài phải trở
về học với Hòa thượng Hành Trụ tại chùa Long An - Sa Đéc.
Cuối
mùa đông 1947, Ngài cầu học với Hòa Thượng Thích Trí Tịnh
tại Phật Học Đường Liên Hải - Sàigon.
Năm
1951, Ngài dưỡng bệnh tại chùa Giác Nguyên - Khánh Hội, đồng
thời dạy kinh pháp cho Tăng chúng. Cũng tại chùa Giác Nguyên
này, Ngài phiên dịch kinh Duy Ma Cật và Kim Cang Giảng Lục.
Năm
1954, với hoài bão “ Hoằng pháp là nhà, lợi sanh là sự
nghiệp”, Ngài đã phụ giúp Hòa Thượng Thích Thiện Hòa,
viện chủ chùa Ấn Quang giảng các bộ kinh Đại Thừa.
Năm
1955, Ngài làm Phó Liên trường Hội Cực Lạc Liên Hữu do
Hòa thượng Thích Trí Tịnh làm Chánh Liên trường.
Năm
1956, Ngài sang Nam Vang dạy khóa hạ tại chùa Chuẩn Đề, khi
trở về Ngài được mời làm trụ trì chùa Kim Huê - Sa Đéc.
Năm
1957, Giáo Hội Tăng Già Nam Việt mở khóa huấn luyện trụ
trì “Như Lai Sứ Giả” tại chùa Pháp Hội do Hòa Thượng
Thích Thiện Hòa làm Trưởng ban và mời Ngài đảm nhiệm Phó
trưởng ban kiêm Thư ký.
Năm
1958, Ngài giảng dạy tại Phật Học Đường Phước Hòa -
Trà Vinh.
Năm
1960, Ngài mời Thượng tọa Huệ Phát giữ chức vụ trụ trì
chùa Kim Huê để Ngài yên tâm nhập thất thiền định.
Năm
1962, Ngài xây dựng Thiền viện Tập Thành ở Bà Chiểu và
làm giới sư Đại giới đàn Phật Học Đường Nam Việt chùa
Ấn Quang.
Năm
1964, ngài được mời làm giới sư tại Đại giới đàn Việt
Nam Quốc Tự.
Từ
năm 1966 đến 1969 Ngài làm giáo sư tại Phật Học Viện Cao
Đẳng Huệ Nghiêm và giảng kinh Viên Giác tại chùa Tuyền
Lâm.
Năm
1970, Ngài khai sơn Tu Viện Huệ Quang rồi thường trụ và hành
đạo tại đây. Ngài được mời làm giới sư tại các giới
đàn: Huệ Quang - Mỹ Tho (năm 1972), Phước Huệ - Nha Trang (năm
1973), Quảng Đức - Long Xuyên (năm 1974) và được mời làm
thành viên Hội đồng Giáo phẩm Trung ương Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam Thống Nhất cùng được suy cử làm Tổng lý
Hội đồng Quản trị Tổ đình Ấn Quang.
Từ
năm 1976 đến 1980, hai Đại giới đàn Quảng Đức và Thiện
Hòa được mở ra tại chùa Ấn Quang, Ngài được cung thỉnh
làm Yết Ma A Xà Lê.
Năm
1982, Thành Hội Phật Giáo Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ
I đề cử ngài giữ chức vụ Phó Ban Trị Sự Thành hội kiêm
Ủy Viên Giáo Dục Tăng Ni.
Năm
1984, Ngài là giới sư Đại giới đàn do Thành Hội Phật Giáo
Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức tại chùa Ấn Quang. Đồng
thời Ngài được mời giảng dạy tại các trường hạ do
Thành Hội tổ chức cùng giữ chức Hiệu Phó kiêm giảng viên
trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam cơ sở 2.
Năm
1987, Đại Hội Phật Giáo nhiệm kỳ II, Ngài được tái cử
chức vụ Phó Ban Trị Sự Thành Hội. Mùa an cư năm này, Ngài
làm thiền chủ trường hạ do Thành Hội tổ chức tại Tổ
đình Vĩnh Nghiêm. Tháng 10/1987, Ngài đi dự Đại Hội Phật
Giáo toàn quốc kỳ II tại Hà Nội. Ngài được tấn phong
Hòa thượng và được đề cử làm Trưởng ban Tăng sự Trung
ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.
Năm
1988, Ngài làm Yết Ma A Xà Lê tại Đại giới đàn do Thành
Hội Phật Giáo tổ chức lần thứ II tại chùa Ấn Quang.
Năm
1989, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam được thành lập,
Ngài được cử làm Trưởng ban Phật giáo chuyên môn.
Cuộc
đời hành hóa của Ngài rất bình dị, chơn tu thật học,
nghiêm trì giới luật, xiển dương Phật pháp bằng con đường
giáo dục. Ngài là một luật sư giáo thọ của Tăng Ni, Phật
Tử trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.
Trong
sự nghiệp tham thiền và giảng dạy, Hòa Thượng đã phiên
dịch:
- Kinh
Duy Ma Cật.
-
Kim Cang Giảng Lục.
-
Lược Sử Đức Lục Tổ.
-
Pháp môn tu chứng Lăng Nghiêm Đại Định.
Chưa
xuất bản:
- Kinh
Phật thuyết Đương Lai Biến.
-
Kinh Phật thuyết diệt tận.
-
Tập Tri Kiến Giải Thoát.
Đang
soạn dịch:
- Kinh
Phạm Võng Hiệp Chú.
Theo
năm tháng trôi qua, bốn đại tùy duyên thuyên giảm, Ngài ngọa
bịnh tại thiền sàng. Chẳng bao lâu Hòa thượng thu thần
viên tịch vào ngày 28 tháng Giêng năm Canh Ngọ (1990). Ngài
trụ thế được 74 năm, với 46 hạ lạp. Bảo tháp Ngài được
xây dựng tại Đại Tòng Lâm - Bà Rịa để cùng đứng chung
với các vị tiền bối đã kiến tạo nên cơ sở Tổ đình
Ấn Quang.