HÒA
THƯỢNG
THÍCH
THANH CHÂN
(1905
- 1989)
Hòa
Thượng pháp danh Thích Thanh Chân, hiệu Nhẫn Nhục, thế danh
là Nguyễn Thanh Chân. Sinh ngày 4 tháng 10 năm Ất Tỵ (1905),
tại thôn Quỳnh Trân, xã Nam Cầu Hạ (nay là xã Nam Hạ ),
huyện Duy Tiên, tỉnh Nam Hà.
Ngài
sinh ra trong một gia đình Nho học thuần đức, ngay từ thuở
thiếu thời, đã được giáo đục đúng mực, sống hòa ái
với mọi người, có chí tiến thủ và lúc nào cũng tỏ ra
hiếu thuận với song thân. Người Thầy đầu tiên chính là
anh cả của ngài, đã trực tiếp kèm Ngài học hành suốt
quảng đời niên thiếu.
Năm
Kỷ Mùi (1919) khi tròn 15 tuổi, Ngài được song thân dẫn đến
xin thọ pháp xuất gia học đạo với Hòa Thượng Thanh Tích,
Giám tự Hương Sơn lúc đó. Vốn sẵn trí thông minh lại làu
thông Nho điển, nên Ngài đã nhanh chóng được Thầy nhận
làm đệ tử truyền trao giáo pháp.
Năm
17 tuổi (Tân Dậu-1921) sau thời gian chấp tác hành đạo, Ngài
được Bổn Sư cho thọ Sa Di giới. Từ đây Ngài được phép
đi tham học khắp nơi với tâm niệm muốn trực tiếp thâm
nhập tạng bản Phật pháp mà chìa khóa ban đầu là vốn Nho
học, do đó Ngài tiếp tục tìm đến cụ Tú ở Bát Tràng
để nâng cao thêm kiến thức Nho học, tiếp nữa đến cụ
Cử Đồng Bào.... Để rồi sau khi thấy trình độ tương đối,
Ngài mạnh dạn tìm đến Thiền Viện Phúc Khánh (Bằng Sở)
để học Phật, lúc này do Hòa thượng Phan Trung Thứ (Thanh
Cát ) trực tiếp giảng dạy.
Năm
21 tuổi (Ất Sửu -1925) Ngài thọ Tỳ Kheo giới. Sau khi được
thọ giới, Ngài càng ra sức trau dồi kiến thức Phật học,
không ngừng nỗ lực phấn đấu để tự vươn lên trong điều
kiện khiếm khuyết về vật chất lẫn phương tiện lưu truyền
kinh tạng. Không lâu sau đó Ngài được cử nhận chức trụ
trì chùa Quỳnh Chân tại quê nhà.
Năm
Giáp Tuất (1934) khi đã 30 tuổi, Ngài trở lại Hương Tích
tiếp tục tinh nghiên giáo lý và để được gần gũi Bổn
sư thọ giáo thêm những điều chưa hiểu. Thời gian này chính
là giai đoạn thử thách cực kỳ lao nhọc. Cũng như Tăng chúng
khác, ngoài những thời khóa tu học, Ngài phải lao động chấp
tác để có lương thực sinh sống hoặc phải san bằng cây
cỏ, tạo mở lối đi, tránh bớt vẻ hoang vu nơi cô tịch
xa xôi.
Khi
Bổn sư viên tịch, Tăng chúng đồng thanh đề cử ngài làm
Giám viện động Hương Tích. Với nhiệm vụ nặng nề này
Ngài càng tỏ ra nghiêm túc để làm gương độ chúng, nhưng
không tạo ra khoảng cách trong đồng môn và Tăng chúng các
thế hệ sau. Các lớp Phật pháp căn bản được Ngài mở
ra theo quy trình nhất định để Tăng chúng có dịp hiểu sâu
thêm tinh hoa Phật Đà và nhận rõ mục đích cao đẹp của
việc xuất gia. Đó cũng là ước nguyện lâu dài của Ngài
đối với tiền đồ Phật giáo khi hội đủ nhân duyên kết
hợp.
Nhưng
ước nguyện cao đẹp ấy chỉ mới bắt đầu kiến tạo nền
móng chưa được bao lâu thì liên tục từ những năm 1947 cho
đến 1950, quân Pháp chọn nơi này làm vị thế chiến lược,
nên đã ra sức đánh phá ác liệt. Vì thế Phật tử chung
quanh nhất là Tăng chúng, phải rời khỏi nơi này. Ròng rã
những tháng ngày kế tiếp chỉ còn Ngài là người duy nhất
ở lại với chùa Tổ trông nom coi sóc để mọi người tản
cư. Hành động cũng có nghĩa rằng Ngài là điểm tựa để
các tổ chức kháng chiến bám trụ. Tấm lòng yêu nước nồng
nàn của Ngài đã được thể hiện mãnh liệt trong thời gian,
hoàn cảnh đó.
Năm
Bính Thân (1956), khi tình hình vãn hồi mọi hoạt động của
Hương Sơn trở lại khung cảnh ban đầu, Ngài đã được chính
thức cử giữ chức trụ trì thắng cảnh này cho đến ngày
viên tịch.
Ngoài
việc nghiêm hành giới luật và dù trong bất kỳ giai đoạn
nào Ngài cũng là thành viên tích cực của Giáo Hội Phật
Giáo, không bao giờ xao lãng nhiệm vụ của người tu sĩ yêu
nước. Từ sau Cách Mạng Tháng Tám cho đến suốt cả thời
gian kháng chiến, Ngài từng là Ủy viên Mặt trận Việt Minh
các cấp, Ủy viên Mặt trận Liên Việt Liên khu 3. Sau năm
1956, Ngài cũng liên tục giữ chức Phó Chủ Tịch Ủy Ban Mặt
Trận Tổ Quốc tỉnh Hà Đông, Hà Tây, Hà Sơn Bình và tham
gia Hội đồng Nhân dân tỉnh 6 khóa.
Bên
cạnh đó, Ngài còn là một trong nhiều vị sáng lập hội
Phật Giáo Cứu Quốc với cương vị Ủy viên thường trực
và chủ bút tờ báo Diệu Âm, tiếng nói Phật Giáo yêu nước
thời đó.
Ngài
còn tích cực vận động và tìm sự ủng hộ từ mọi phía
nhất là với các vị Tôn đức miền Bắc lúc đó, nhằm thành
lập một tổ chức Phật Giáo Thống Nhất. Năm 1956, Ngài đã
hợp cùng chư vị khác trong Tăng đoàn đến gặp Chủ Tịch
Hồ Chí Minh để xin phép thành lập Hội Phật Giáo Thống
Nhất Việt Nam.
Năm
Mậu Tuất (1958), Hội Phật Giáo Thống Nhất Việt Nam được
thành lập, Ngài được tham gia vào Ban Trị Sự Trung Ương
và Ban Chứng Minh Đạo Sư, đồng thời trực tiếp làm Chi
Hội Trưởng các tỉnh Hà Đông, Hà Tây, Hà Sơn Bình. Từ
đó Ngài đã yên tâm tu dưỡng và hoằng hóa trên cương vị
lãnh đạo của một tổ chức Phật Giáo Thống Nhất ở Miền
Bắc. Dù vậy trong hoàn cảnh đất nước còn bị chia cắt,
tấm lòng vị Tăng già thiết tha với đạo vẫn hoài vọng
thiết tha.
Năm
Ất Mão (1975), thời điểm thống nhất đất nước sau hơn
hai mươi năm chia cắt. Ước mơ thống nhất Phật Giáo lúc
này càng trở nên thiết thực bội phần, nhất là theo định
luật vô thường tuổi đời Ngài đã không còn cơ duyên tồn
tại lâu hơn. Do đó Ngài cùng Hòa Thượng Trí Độ và một
vài vị lãnh đạo Miền Bắc lo xúc tiến công việc. Các Ngài
liền tìm gặp lại chư vị trong Nam sau bao năm dài ngăn cách.
Tấm lòng đó đã bắt nhịp đúng với tâm tư nguyện vọng
của những vị trong Nam. Thuận duyên lớn nhất đã đem đến
kết quả thống nhất Phật Giáo nhanh chóng chính là nhờ nhiệt
tình của Hòa Thượng Thích Trí Thủ. Các Ngài đã gặp nhau
và đã cùng nhau thành lập Ban vận động thống nhất Phật
giáo Việt Nam.
Năm
1981 (Tân Dậu), ngay tại Đại hội đầu tiên của Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam, Ngài được suy cử Phó Chủ Tịch Hội
Đồng Trị Sự Trung Ương và giữ nguyên chức vụ này cho
đến khi viên tịch.
Năm
Mậu Thìn (1988), sau bao năm dài lao nhọc tâm não lẫn thể
lực, căn bệnh cũ tái phát trầm trọng, Ngài phải vào bệnh
viện Hữu Nghị Việt - Xô để điều trị.
Năm
Kỷ Tỵ (1989) sau hơn một năm trị bệnh, Ngài đã thị tịch
ngày 17 tháng 02, nhằm ngày 12 tháng 01 â.l, hưởng thọ 85 tuổi
đời, 70 tuổi đạo.