HÒA
THƯỢNG
THÍCH
PHƯỚC QUANG
(1908
- 1988)
Hòa
thượng Thích Phước Quang thế danh Tiêu Mao, sinh ngày 28-4 Mậu
Thân (1908) tại làng Tân Hội, huyện Vạn Linh, tỉnh Quảng
Đông, Trung Quốc. Xuất thân trong một gia đình nông dân, thân
phụ là cụ Tiêu Minh, thân mẫu là cụ Ấu Quý. Ngài tham gia
phong trào Tam Dân do Tôn Dật Tiên lãnh đạo. Năm 1927, bị
Tưởng Giới Thạch khủng bố, cả gia đình chạy sang Việt
Nam, vào Chợ Lớn, xuống Định Tường làm công cho tiệm giải
khát tại thành phố Mỹ Tho để kiếm sống.
Nhờ
ảnh hưởng truyền thống cách mạng của gia đình nên khi
sang Việt Nam, Ngài dễ dàng hội nhập vào xã hội của giai
cấp lao động nghèo để giúp đỡ người cô thế, chống
áp bức bất công nên được đồng bào người Hoa cũng như
người Việt thương mến quý trọng.
Thuở
thiếu thời Ngài là một võ sư nổi tiếng từ Sài Gòn đến
Lục Tỉnh. Do đó các quan lại cầm quyền cùng hương chức
hội tề chuyên áp bức nhân dân đều nể sợ Ngài, anh em
tựu nghĩa về dưới trướng rất đông. Ngài tập họp được
một nhóm anh em công nhân người Hoa quan hệ với thợ thuyền
hãng xưởng ở Mỹ Tho hòa nhập vào cao trào Cách Mạng tại
địa phương.
Năm
1936-1939, Ngài hướng dẫn công nhân lao động thành phố Mỹ
Tho tham gia phong trào Mặt trận bình dân Nam Kỳ, dự mít-tinh,
đấu tranh đình công bãi thị đòi dân sinh, dân chủ. Sau đó
Ngài được cách mạng huy động cùng với Hà Tôn Hiến, võ
sĩ Tộ chuyên trách huấn luyện anh em võ trang, tự vệ đỏ.
Đêm
22 tháng 11 năm 1940, nhận lệnh khởi nghĩa, Ngài hướng dẫn
toán nghĩa quân người Hoa trong thành phố Mỹ Tho cùng nhân
dân toàn tỉnh nổi dậy cướp chánh quyền. Nhưng do cuộc
khởi nghĩa Nam Kỳ bị lộ, giặc Pháp đã đề phòng, việc
cướp chánh quyền bị thất bại, chúng ra tay đàn áp, Ngài
và anh em phải lẩn trốn và hoạt động bí mật.
Tháng
8 năm 1945, Ngài cùng nghĩa quân một lần nữa cướp chính
quyền. Cách Mạng Tháng Tám thành công, Ngài được cử làm
Hội trưởng Hội Hoa kiều Liên Hữu, là tiền thân của Hoa
Kiều giải phóng Liên hiệp Hội tỉnh Mỹ Tho cho đến năm
1954.
Tháng
7 năm 1954, hòa bình lập lại, Ngài tiếp tục lãnh đạo người
Hoa tham gia các cuộc mít-tinh biểu tình đòi thi hành hiệp
định Genève. Ngài bị chính quyền nhà Ngô ba lần vây bắt,
nhờ mưu trí và tài võ nghệ cao cường nên cả ba lần Ngài
đều trốn thoát.
Năm
1954, Ngài lên Sài Gòn gắn với phong trào hòa bình hoạt động
cùng ông Ký Đăng, khi cơ sở bị phát hiện, Ký Đăng bị
bắt, Ngài trốn thoát được và bước qua bước ngoặt mới:
Ngài xuất gia đầu Phật, bỏ lại sau lưng quá khứ hào hùng
ấy mà đi vào lãnh vực tịch tịnh từ bi.
Năm
1960, Ngài xuất gia tại chùa Giác Nguyên ở Khánh Hội, được
Hòa thượng Thiện Tường thâu nhận làm đệ tử, đặt pháp
danh là Phước Quang, húy là Trừng Minh. Tại đây Ngài Phước
Quang chăm lo tu học và chấp lao phục dịch thiền môn dưới
sự dìu dắt của Hòa thượng Bổn sư.
Năm
1961, chùa khai giới đàn, Ngài được thọ giới Sa Di. Do là
người Hoa, nên Hòa thượng Bổn sư cho phép tu học hành đạo
theo Hoa Tông mang tính đặc thù của người Hoa, vốn là để
Ngài gần gũi kết duyên với Hoa Tông mà cảm hóa tín đồ
người Hoa truyền thừa đạo mạch. Nhờ sự kiên trì tu học,
Ngài ngày càng có uy tín trong giới Phật giáo người Hoa, cuối
năm 1961, Ngài kiến lập Từ Đức Tịnh Xá làm trú xứ và
làm nơi qui tụ Phật tử người Hoa về đây lễ bái tu học.
Năm
1962, Ngài thọ Tỳ kheo giới tại Giới đàn chùa Tứ Diện
tỉnh Trà Vinh. Từ đây, trên đường hành đạo, Ngài đã
có điều kiện tập hợp tín đồ, quy tụ quần chúng thành
lập các Hội quán, các tổ chức hợp pháp như:
. Hội
Từ Thiện - Quan Âm cứu trợ.
.
Đại Từ Liên Xã.
.
Nhóm chống bắt lính v.v...
Năm
1970, chư Tôn người Hoa tại Việt Nam trù bị thành lập Giáo
Hội Phật Giáo Hoa Tông Việt Nam. Ngài được mời làm thành
viên Ban trù bị. Đến năm 1972, tại Đại hội Đại biểu
lần thứ nhất Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất,
Ngài được bầu làm Tổng vụ Trưởng Tài chánh Ban chấp
hành Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất,
và cũng tại Đại hội này, Ngài được suy tôn làm Hòa thượng.
Năm
1973, Ngài xây dựng thêm ngôi chùa Từ Đức mới, với qui
mô lớn hơn nhằm mở rộng cơ sở, qui tụ quần chúng làm
Phật sự. Ngoài việc tu học phụng sự đạo pháp, Ngài còn
lãnh đạo tín đồ người Hoa cùng với Phật giáo toàn quốc
tham gia đấu tranh đòi hòa bình chống áp bức theo xu thế
chung bấy giờ; và còn vận động tài chánh vật chất chuyển
ra vùng cách mạng, giúp cho cán bộ hoạt động nội thành
ăn ở hội họp rất bí mật và an toàn.
Năm
1975, với lực lượng và uy tín lớn sẵn có, Ngài huy động
các tầng lớp người Hoa tham gia cuộc cách mạng lịch sử
thống nhất nước nhà. Cách mạng thành công, Ngài được
Phật giáo Hoa Tông Việt Nam bầu làm Chủ tịch Ban chấp hành
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trong kỳ Đại hội
bất thường. Đến tháng 8-1975, Ngài lại được đề cử
làm Ủy viên đoàn Chủ tịch kiêm Thủ quỹ Ban Liên Lạc Phật
Giáo Yêu Nước Thành Phố.
Tháng
3 năm 1976, Ngài được cử làm Ủy viên Ban kiểm tra bầu cử
Quốc hội thống nhất. Từ năm 1976 đến 1987, Ngài là Đại
biểu Hội đồng Nhân dân Quận 5 các khóa 1, 2, 3; là Ủy viên
Ủy ban Mặt trận Thành phố và quận 5 suốt 3 nhiệm kỳ.
Và là Trưởng Ban Liên Lạc Phật giáo Yêu nước quận 5, sau
là Chánh Đại diện Phật giáo quận 5.
Năm
1978, Ngài hướng dẫn 148 hộ tư sản chuyển sang sản xuất
tại Tân Lập, Tiền Giang. Tại đây Ngài đã kiến tạo một
cơ sở Từ Đức 3.
Tháng
11, năm 1981, tại Hội nghị thống nhất Phật giáo toàn quốc
ở chùa Quán Sứ, Hà Nội, Ngài được suy cử làm thành viên
Hội đồng Chứng Minh.
Năm
1982, tại Đại hội thành lập Thành Hội Phật Giáo Thành
phố Hồ Chí Minh, Ngài được cử làm Ủy viên Ban Trị Sự,
đặc trách hệ Hoa Tông.
Ngoài
ra, trong quá trình hành đạo của mình, Ngài đã xây dựng
được các cơ sở đến nay vẫn còn phát huy tác dụng lợi
ích cho xã hội là:
. Trường
Chính Nghĩa (Mỹ Tho).
.
Trường Chánh Giác (Thủ Dầu Một).
.
Tang nghi quán Quảng Đông (quận 5).
Tuổi
già sức yếu, định luật vô thường rồi cũng đến với
bất cứ một ai. Tuy đảm trách nhiều chức vụ Phật sự
trong lúc ngã bệnh, Ngài vẫn chỉ đạo công tác cho đến
khi không thể trở dậy được nữa. Ngài đã làm di chúc,
sáng suốt ủy thác sự nghiệp lại cho Giáo Hội và Môn đồ,
cầu thỉnh Chư Tôn đức về chùa Từ Đức để gặp mặt
lần cuối cùng và làm lễ cúng dường rộng rãi.
Ngài
nhẹ nhàng thị tịch vào lúc 11 giờ ngày 20 tháng 8 Mậu Thìn,
tức ngày 30-9-1988 tại chùa Từ Đức quận 5. Trụ thế 81
năm, hành đạo 30 năm.
Hòa
thượng Thích Phước Quang có công lao to lớn trong hoạt động
cách mạng xuyên suốt hai thời kỳ chống Pháp và Mỹ. Là
một bậc tu hành tiêu biểu giàu lòng yêu nước, đóng góp
tích cực cho sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc và công
cuộc thống nhất Phật giáo Việt Nam.