HÒA
THƯỢNG
THÍCH
BÌNH MINH
(1924
- 1988)
Hòa
thượng Thích Bình Minh, pháp danh Quảng Tuấn, thế danh Nguyễn
Bình Minh, sinh ngày 20 tháng 10 năm Giáp Tý (10-11-1924) tại xã
Hương Cát, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Thân phụ là
cụ Nguyễn Văn Chữ và thân mẫu là cụ Nguyễn Thị Ninh.
Ngài là con út trong gia đình có bốn trai hai gái, nên được
học hành chu đáo cả Nho lẫn Tây học.
Gia
đình Ngài đều là những Phật tử thuần thành. Trung tuần
tháng 6 năm Mậu Dần (1938), Ngài được song thân cho phép xuất
gia và được Sư cụ Thanh Tiên, trụ trì chùa Tuân Lục, huyện
Trực Ninh, tỉnh Nam Định nhận làm đệ tử và truyền thụ
tam quy ngũ giới.
Cuối
năm 1938, Ngài được truyền thụ Sa Di giới và tu học ở
chùa Tuân Lục được hơn một năm. Cuối năm 1939, khi Sư cụ
Thanh Tiên vào trụ trì tại chùa Lễ (An Lạc) thị xã Vinh,
tỉnh Nghệ An, Ngài được theo Bổn sư.
Ngài
tu học tại đó đến giữa năm 1944 thì ra chùa Quán Sứ, được
Hòa thượng Trí Hải quan tâm đưa sang chùa Bồ Đề (huyện
Gia Lâm) theo học Tổ Tuệ Tạng (tức Tổ Cồn) và sau đó
lại trở về chùa Quán Sứ học Duy Thức học do Cư sĩ Nguyễn
Hữu Kha (Thiều Chửu) giảng.
Vào
đầu năm 1945, Ngài được cử đi trụ trì chùa làng Phú Nghĩa
Hạ, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Mới được nửa năm thì Cách
Mạng Tháng Tám thành công, Ngài trở lại chùa Quán Sứ và
sau đó Ngài về chùa Cồn (Nam Định) theo Tổ Tuệ Tạng để
tu học.
Từ
cuối năm 1945 đến giữa năm 1954, Ngài y chỉ hẳn vào Tổ
Tuệ Tạng để tu học và đã theo hầu Tổ trú chân đó đây
nhiều cảnh chùa như Quần Phương Trung, Nam Anh, Cát Chữ, Nội,
Sở, Vọng Cung, Quán Sứ v.v...
Vào
trung tuần tháng 3 năm Mậu Tý (1948), Tổ Tuệ Tạng tổ chức
giới đàn để truyền thụ Tỳ kheo giới cho Ngài và các bạn
đồng tu có giới hạnh.
Từ
năm 1951 đến 1954, Tổ cho Ngài ra ở chùa Quán Sứ để học
Trung cấp ngoại điển. Sau Hiệp định Genève, Ngài vào Nam
để tham cứu thêm nội điển nơi các bậc Tôn đức Phật
giáo đàng trong. Đầu tiên, Ngài tạm trú tại chùa Ấn Quang,
nơi có Phật học đường Nam Việt đang mở do Hòa thượng
Thiện Hòa làm Giám đốc cũng là đồng hữu tu học môn Luật
tạng với Ngài tại chùa Cồn.
Đầu
năm 1955, Giáo Hội Tăng Già Bắc Việt tại miền Nam ra đời,
chùa Giác Minh được thành lập, Ngài về chùa Giác Minh giữ
chức Giảng viên kiêm Thủ quỹ. Sau đó Ngài về chùa Giác
Hoa ở Gia Định để học thêm ngoại ngữ và nghiên cứu nội
điển. Cũng trong năm này, Ngài cùng một số vị Tăng hữu
sang Campuchia tham quan các ngôi chùa nổi tiếng và tìm hiểu
về Phật giáo Nguyên Thủy.
Năm
1957, Ngài được cử giữ chức Tổng thư ký Giáo Hội Tăng
Già Bắc Việt, tiếp theo Ngài làm Ủy viên Hoằng pháp, rồi
cố vấn giáo lý và Chánh Duy Na chùa Giác Minh cho đến năm
1960.
Năm
Tân Sửu (1961), Ngài khai sơn cảnh chùa riêng do Ngài tự tạo
để tìm sự yên tĩnh tư duy về giáo lý và giảng dạy Tăng
tín đồ. Đó là chùa Hòa Bình ở đường Lê Văn Duyệt, quận
10 Sài Gòn. Tại nơi đây chính thức bắt đầu sự nghiệp
hoằng hóa của Ngài. Tăng tín đồ khắp nơi quy ngưỡng về
học Giáo lý và Luật tạng rất đông và đều đặn.
Năm
1964, Ngài được bầu làm Đặc Ủy Tăng Sự Miền Vĩnh Nghiêm,
và giữ chức vụ ấy đến ngày thống nhất đất nước (1975).
Trong thời gian này, Ngài cùng Hòa thượng Thích Thanh Kiểm
hướng dẫn một đoàn Phật tử Việt Nam tham quan chiêm bái
thắng tích các cảnh chùa ở Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông
(năm 1967). Rồi cùng các Hòa thượng trong đoàn Phật giáo
Việt Nam đi thăm viếng Phật giáo các nước Lào, Thái Lan,
Đài Loan, Hồng Kông (1969). Trong những năm này, Ngài được
mời làm Giáo sư giảng dạy tại Phật học viện Việt Nam
Quốc Tự.
Năm
1972, Ngài được Giáo Hội cử đi dự Đại hội Phật Giáo
Liên Hữu Thế Giới lần thứ 10 tại Tích Lan (Colombo) cùng
với các Hòa thượng Thanh Kiểm, Độ Lượng, Kim Sang. Sau đó
Ngài được cơ duyên thăm viếng các ngôi chùa nổi tiếng
tại Kandy, Anuradhapura, Mihintale.
Cuối
năm 1972 đến năm 1973, Ngài được mời làm Tổng vụ Trưởng
Tổng Vụ Phật học Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất,
sau đó làm Đặc Ủy Phật học miền Vĩnh Nghiêm cho đến
ngày thống nhất đất nước, và tiếp tục giữ chức Ủy
Viên Quản Trị chùa Vĩnh Nghiêm suốt những năm về sau.
Năm
1983-1984, Ngài dạy luật tại Phật học viện Thiện Hòa chùa
Ấn Quang, và phụ trách môn Kinh Luật tại các trường hạ
Vĩnh Nghiêm, Giác Ngộ và các Phật học Ni trường cùng giảng
giáo lý phổ thông cho Phật tử tại chùa Hòa Bình. Đặc biệt,
qua các lớp chuyên khoa Luật học tại chùa Hòa Bình, Ngài
đã tạo được một thế hệ kế thừa vững chắc về căn
bản giáo điển cần thiết để thi hành nhiệm vụ Sứ Giả
Như Lai.
Ngoài
việc giảng dạy, Ngài còn biên soạn các giáo trình, phiên
dịch các kinh điển phổ cập và công trình cuối cùng là
phiên dịch bộ luật Yết Ma Chỉ Nam ra tiếng Việt, giúp cho
Tăng Ni có điều kiện hành sự tác pháp Thiền môn đúng luật.
Bên cạnh đó, Ngài tổ chức việc tác pháp tụng giới đều
đặn tại giới tràng chùa Hòa Bình cho Tăng sinh các nơi về
đây thực tập, và là giới tràng tụng Bồ Tát giới cho cư
sĩ Phật tử.
Nhưng
hữu thân tức hữu bệnh, một bệnh nan y đã khiến Ngài ra
đi về cõi Phật vào ngày 15 tháng 11 năm Mậu Thìn (23-12-1988)
tại chùa Hòa Bình trong sự luyến tiếc của Tăng Ni Phật
tử. Ngài trụ thế được 64 năm với 40 hạ lạp.
Hòa
thượng đã biên soạn và phiên dịch các tác phẩm :
- Phật
Giáo giáo khoa (biên soạn).
-
Kinh 42 Chương (dịch).
-
Kinh Di Giáo (dịch).
-
Kinh lễ 6 phương (dịch).
-
Nghi thức phổ thông (biên soạn).
-
Yết Ma Chỉ Nam (dịch).