HÒA
THƯỢNG
NGỘ
CHÂN TỬ
(1901
- 1988)
Hòa
thượng Ngộ Chân Tử thế danh là Trần Rinh, sinh ngày mùng
3 tháng 3 năm Tân Sửu (1901), tại tỉnh Thái Bình trong một
gia đình Nho học. Thân phụ là cụ Trần Quán, thân mẫu là
cụ Trần Thị Phược. Ngài là anh cả trong số năm anh em (3
trai 2 gái).
Sớm
hấp thụ và thâm hiểu Nho học từ thời niên thiếu, khi trưởng
thành Ngài chuyển sang nghiên cứu Phật học theo sự hướng
dẫn của Sư tổ Quang Huy. Nhờ túc căn sẵn có, lại thêm
siêng năng nghiên cứu; nên Ngài quyết tâm hướng về đạo
giải thoát để tìm cầu chân lý. Sau một thời gian tầm sư
học đạo Ngài đã gặp được Tôn sư Hư Không Tử thường
du hóa tha phương, hành đạo theo hạnh Độc giác và chuyên
giảng kinh hóa độ quần mê. Với lời giảng thanh thoát và
dung mạo uy nghiêm, biểu thị một bậc chân tu thoát tục,
Tôn sư đã mau chóng cảm hóa Ngài. Vào ngày mùng 8 tháng 2
năm Kỷ Mùi, Ngài được Tôn sư trao truyền qui giới với
pháp danh Ngộ Chân Tử. Sau đó Ngài đã đắc pháp với cụ
Tổ chùa Bà Đá - Hà Nội.(1)
Năm
Kỷ Mùi (1919), trên bước vân trình theo thầy học đạo, Ngài
đã được nhân duyên chiêm bái nhiều nơi cổ tích danh lam.
Khi qua Yên Tử, lúc đến Côn Sơn, rồi Non Nước, Tam Đảo,
Tản Viên, Hương Tích, chùa Thầy đều là những thắng địa
cho việc tọa thiền tu tập.
Năm
1927, Ngài xin phép Thầy trở về trùng tu chùa làng tại Cao
Mại, Kiến Xương, tỉnh Thái Bình và thỉnh Tôn sư đến giảng
kinh. Cao đức của Tôn sư và nhiệt tâm của Ngài đã chuyển
hóa gia đình qui hướng Phật đạo, đồng tâm xả tục, phát
nguyện trai giới tu hành, đem hết tài sản ruộng vườn hiến
cúng Tam Bảo để mở mang Phật sự.
Từ
năm 1929 đến năm 1932, Ngài đến trùng tu các chùa Quan Âm
tỉnh Kiến An, chùa làng Úc Gián huyện Kiến Thụy, chùa Văn
Đẩu huyện An Lão, chùa Kiên Bái, chùa Côn Sơn, chùa Đỗ
Xá huyện Chí Linh, Hải Dương, chùa Phù Cốc, chùa Khánh Vân
phủ Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
Năm
1935, Ngài mua đất tại Kiến An và sáng lập chùa Hoằng Pháp
độ chúng tu hành, hoằng truyền giáo pháp.
Năm
1938, để thực hiện hạnh nguyện bố thí và từ bi, Ngài
đã thành lập Viện Dục Anh, tại tỉnh Kiến An, thu nhận
các trẻ em nghèo khổ, mất cha mất mẹ, thiếu tình thương
về nuôi dạy cho ăn học thành tài. Ngoài ra, Ngài còn mở
thêm tiểu thủ công nghiệp để giúp đỡ những người nghèo
khó có phương tiện sinh sống. Việc làm này đã được chính
quyền đương thời và chư Tôn thiền đức hết sức tán thán
và ủng hộ, vì đã thể hiện được tinh thần cứu khổ
ban vui của đạo Phật.
Năm
1945 (Ất Dậu), chiến tranh Pháp - Nhật xảy ra trên quê hương,
nạn đói tràn lan miền Bắc, thây chết đầy đường, tiếng
khóc than như xé ruột. Đứng trước thảm cảnh tang thương
của đồng bào, Ngài đã vận động các cơ quan từ thiện
và những nhà hảo tâm tiếp sức với chùa, tổ chức cứu
tế xã hội giúp đỡ cơm áo thuốc men cho những người đói,
bệnh. Hằng ngày, Ngài cùng với bổn đạo kéo xe đi nhặt
các tử thi xấu số không người thừa nhận về mai táng.
Năm
1953, Ngài mua hai mẫu đất tại tỉnh Hải Phòng, mở Tùng
Lâm tu viện nay là chùa Phổ Chiếu và lập thêm Viện Dưỡng
Lão giúp đỡ người già yếu có nơi an dưỡng, tu niệm.
Năm
1955, với mục đích hoằng dương Phật pháp đến khắp mọi
miền, Ngài đã hành đạo đến miền Nam qua các nơi như Gò
Công, Cai Lậy, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Châu Đốc.
Năm
1957, nhận thấy Gia Định là nơi thuận duyên trong việc hành
đạo, Ngài liền mua sáu mẫu đất tại xã Tân Hiệp, huyện
Hốc Môn, sáng lập chùa Hoằng Pháp, mở ra Đạo Tràng Thiền
Học, tổ chức in kinh sách ấn tống mong giáo lý Phật đà
được phổ biến sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân.
Năm
1965, trước cảnh màn trời chiếu đất, nhà tan cửa nát của
đồng bào do chiến tranh tàn phá tại Đồng Xoài, Thuận Lợi,
Ngài đã đón nhận 60 gia đình gồm 361 nhân khẩu về chùa
nuôi ăn trong 8 tháng. Sau đó, xây cất khu định cư gồm 55
căn nhà vách tường mái tôn cấp cho đồng bào với đầy
đủ các đồ dùng cần thiết trong gia đình.
Năm
1968, Ngài tiếp nhận và trùng tu Niệm Phật Đường Thiện
Phước tại số 192/11 đường Nguyễn Trãi quận 5 thành phố
Hồ Chí Minh làm nơi giảng kinh thuyết pháp, phổ biến kinh
sách.
Cũng
năm 1968 chiến tranh vẫn tiếp diễn tàn khốc trên quê hương
đất nước, những trẻ thơ mất cha lạc mẹ bơ vơ không
nơi nương tựa hoặc nghèo đói thất học ngày càng nhiều.
Một lần nữa, Ngài lại thành lập Viện Dục Anh tại xã
Tân Hiệp huyện Hốc Môn, tiếp nhận cô nhi và bần nhi từ
6 đến 8 tuổi, khoảng 355 em, nuôi dạy miễn phí, rèn luyện
đức trí thể dục để trở thành người hữu dụng cho đất
nước trong tương lai.
Năm
1974, mặc dù tuổi đã cao, nhưng với hạnh nguyện từ bi vô
lượng, Ngài đã mua 45 mẫu đất tại ấp Phú Đức, xã Tân
Tạo, huyện Bình Chánh dự định thực hiện một chương trình
xây dựng làng cô nhi Việt Nam với đầy đủ phương tiện
cho các em sinh hoạt và một đền thờ Quốc Tổ Hùng Vương
để nhắc con cháu nhớ đến công cuộc mở nước và dựng
nước của các Vua Hùng oanh liệt thuở trước . Công việc
đang được tiến hành xây dựng thì đến tháng 4-1975 đất
nước thống nhất, Ngài đã hiến số đất đó cho Ban quản
trị khu Kinh tế mới sử dụng, hiện nay là nông trường Lê
Minh Xuân.
Từ
sau giải phóng, Ngài vẫn tiếp tục những công tác từ thiện
xã hội cho đất nước. Mặc dù tuổi cao sức yếu và với
kinh tế eo hẹp, Ngài vẫn đóng góp hằng tháng vào trường
Cao cấp Phật học và trong cuộc hỏa hoạn ở chợ nhỏ phường
24 quận 1 đường Nguyễn Cảnh Chân, Ngài đã cứu trợ ba
đợt cho 32 hộ tại đó.
Với
tâm nguyện hoằng pháp để giác ngộ chúng sinh, mặc dù bận
rộn rất nhiều công tác Phật sự và từ thiện xã hội,
Ngài vẫn không quên truyền bá chánh pháp. Một số kinh sách
do Ngài biên soạn, đã được in ấn như:
1.
Kinh Nhựt Tụng (soạn riêng cho chùa tụng đọc).
2.
Nghi luật tu trì thiết yếu.
3.
Qui giới hành trì.
4.
Sự tích nhân quả báo ứng.
5.
Tuyên dương diệu pháp.
6.
Đạo giải thoát.
7.
Tuyên dương chính pháp.
8.
Trên đường hành đạo.
9.
Khóa niệm tùy thân.
10.
Lược sử Phật Tổ.
Năm
1986 tuổi đã cao, biết mình sắp xa rời Đạo tràng, môn chúng,
Ngài nhắn nhủ cặn kẽ với môn đồ: “Hãy để tôi về,
đừng nuối tiếc gì nữa”. Ngài đã thị tịch lúc 13 giờ
30 phút ngày 16 tháng 10 năm Mậu Thìn tức ngày 26/11/88 tại
chùa Hoằng Pháp. Ngài trụ thế 88 năm và được 65 tuổi đạo.
Chú
thích :
(1)
Hòa thượng Ngộ Chân Tử ban đầu hành đạo theo Tam Giáo,
nên Ngài tu hạnh biệt truyền, không theo hệ thống giới pháp
của Phật giáo chính thống.