HÒA
THƯỢNG
THÍCH
GIÁC TÁNH
(1911
- 1987)
Hòa
thượng thế danh là Võ Phi Long, pháp danh Nguyên Lưu, pháp tự
Chí Ý, pháp hiệu Giác Tánh. Thuộc đời thứ 44 dòng thiền
Lâm Tế, phái Liễu Quán.
Ngài
sinh ngày 2 tháng 3 năm Tân Hợi (1911), tại làng Vĩnh Lộc,
xã Bình Hòa, quận Bình Khê (Tây Sơn), tỉnh Bình Định trong
một gia đình nhiều đời có truyền thống Phật giáo. Thân
phụ Ngài là cụ Võ văn Trí và thân mẫu là cụ Hà Thị Tước.
Khi Ngài vừa tám tuổi thì thân phụ qua đời.
Năm
Quí Hợi (1923), do túc duyên từ nhiều đời, thân mẫu chấp
thuận và trực tiếp đưa Ngài đến chùa Hưng Long, thuộc
thôn Dương Lăng, xã Nhơn An, quận An Nhơn, tỉnh Bình Định,
cầu xin xuất gia với Hòa thượng Huệ Chiếu. Năm ấy Ngài
được mười ba tuổi.
Năm
Đinh Mão 1927, khi vừa đúng tuổi mười bảy, Ngài được
thọ giới Sa Di tại trường Hương chùa Long Khánh (Quy Nhơn),
do Hòa thượng Chánh Nhơn làm đàn đầu.
Năm
Tân Mùi (1931), 20 tuổi Ngài thọ Tỳ Kheo Bồ Tát giới tại
Đại giới đàn Gia Khánh tỉnh Bình Định, do Hòa thượng
Huyền Ngộ làm đàn đầu.
Năm
1934, 23 tuổi Ngài đến chùa Thiên Ấn (Quảng Ngãi) tham học
với Hòa thượng Diệu Trang, Tăng cang Tổ đình Thiên Ấn.
Năm
1935, 24 tuổi Ngài về Tổ đình Thập Tháp (Bình Định) tham
học với Quốc sư Phước Huệ.
Năm
1936, 25 tuổi khi Quốc sư Phước Huệ được triều đình cung
thỉnh ra giảng pháp nơi hoàng cung và cho Tăng Ni ở Huế, Ngài
được theo Quốc sư trực tiếp tham học để bổ sung kiến
thức Phật học.
Trong
thời gian lưu trú ở Huế, Ngài học tại Phật học đường
chùa Tây Thiên do Quốc sư Phước Huệ giảng dạy. Các Pháp
hữu đồng học cùng Ngài lúc bấy giờ gồm các vị: Mật
Nguyện, Hành Trụ, Thiện Hoa, Thiện Hòa, Huyền Tân, Bình Chánh,
Trí Nghiêm... Sau khi ra trường Ngài là một trong những cổ
động viên của Đoàn Thanh Niên Tăng Lữ tại Phật học đường
Báo Quốc (Huế).
Năm
1942, Ngài được Đà Thành Phật Học Hội cung thỉnh làm giảng
sư ở Phật học đường chùa Phổ Hiền, Đà Nẵng.
Năm
1943, Ngài trở về chùa Hưng Long (Bình Định) thành lập Phật
học đường để giảng dạy cho Tăng Ni tại tỉnh và một
bộ phận chúng Tăng của Phật học đường Phổ Hiền đưa
vào. Cũng thời gian này, Đoàn Thanh Niên Tăng Lữ Huế được
Ngài đổi thành Đoàn Thanh niên Tăng sĩ Bình Định.
Năm
1945, nhiều biến động lịch sử xảy ra trên thế giới lẫn
ở Việt Nam. Hoạt động của Phật học đường cũng bị
ảnh hưởng nên phải đình chỉ tất cả. Một số Tăng sinh
trở về trú xứ hoặc tham gia trực tiếp vào các hoạt động
xã hội khác. Các bậc cao minh túc trí lãnh đạo Phật giáo
Bình Định nhận định rằng không thể để tình trạng đó
kéo dài, làm ảnh hưởng đến việc đào tạo những thế
hệ kế thừa hoằng truyền chánh pháp. Do đó, đối với tình
hình đất nước, việc trước mắt là thành lập HỘI PHẬT
GIÁO CỨU QUỐC do các Ngài Tâm Hoàn, Bình Chánh, Huyền Quang,
Kế Châu và Ngài khởi xướng hoạt động, góp phần đấu
tranh giành độc lập dân tộc, đồng thời quy tụ và củng
cố lại nội bộ Tăng Già. Kết quả đa số quần chúng Phật
tử và các giới đồng thanh ủng hộ tham gia. Do những việc
làm tích cực đó nên Ngài được bầu vào Hội đồng Nhân
dân xã Nhơn An và huyện An Nhơn trong những năm 1945-1952. Và
cũng trong giai đoạn này, Ngài cùng các Hòa thượng kể trên
sáng lập Chúng Lục Hòa Phật Giáo Liên khu 5.
Năm
1946, Ngài cùng các Hòa thượng sáng lập đã tổ chức Hội
nghị để đổi tên Hội Phật Giáo Cứu Quốc thành Phật
giáo Việt Nam. Ngài được giữ chức Kinh Tài của Phật giáo
Việt Nam tỉnh Bình Định.
Từ
năm 1948 đến 1958, trong thập niên này, Ngài lần lượt đảm
nhận các chức vụ Phó Giám đốc các Phật học đường Thiên
Đức, Nhạn Sơn và Thập Tháp.
Năm
1952, Ngài cùng các Hòa thượng trong tỉnh đứng ra tổ chức
Trường Kỳ ở chùa Thiên Bình (Bình Định) để truyền trao
giới pháp cho chúng Tăng.
Năm
1954, Ngài được công cử ra Huế liên lạc với Phật giáo
Trung phần. Sau khi trở về, Ngài cùng chư tôn túc thực hiện
sứ mạng cải tổ hai tổ chức Phật giáo hoạt động song
song với nhau đó là thành lập Giáo Hội Tăng Già và Tổng
Hội Phật Giáo.
Năm
1956, Ngài đảm nhận chức vụ Phó Trưởng ban Kiến thiết
trùng tu Tổ đình Thập Tháp, Bình Định.
Năm
1958, Ngài cùng Hòa thượng Tâm Hoàn trùng tu ngôi Tổ đình
Long Khánh, Qui Nhơn. Cũng trong năm này Ngài được Hòa thượng
Thích Trí Thủ Giám đốc Phật học viện Trung phần (Hải
Đức, Nha Trang) thỉnh cử vào hàng chức sự truyền giới.
Năm
1959, Ngài trùng tu Tổ đình Hưng Long và làm trưởng Ban Quản
trị Tu Viện Nguyên Thiều.
Năm
1961, Giáo Hội Tăng Già Trung phần công cử Ngài làm Phó Ban
Trị sự, đồng thời mở Đại giới đàn tại chùa Linh Quang
và cung thỉnh Ngài vào hàng Thập sư truyền giới.
Năm
1963, Ngài được suy cử làm Tổng Thư ký cho hai tổ chức
Giáo Hội Tăng Già và Tổng Hội Phật Giáo để lãnh đạo
cuộc đấu tranh đòi tự do tín ngưỡng, bình đẳng tôn giáo
của Tăng tín đồ Phật Giáo tỉnh Bình Định.
Năm
1964, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành
lập, Ngài được Viện Hóa Đạo công cử làm Chánh đại
diện miền Liễu Quán và là thành viên của Hội đồng Giáo
Phẩm Trung Ương Viện Tăng Thống. Cùng năm này, Ngài cùng
chư huynh đệ trùng tu lại ngôi Tổ Đình Thiên Đức.
Năm
1968, miền Liễu Quán tổ chức Đại giới đàn Hải Đức
tại Nha Trang, cung thỉnh Ngài vào hàng Thập sư truyền giới
và Đại giới đàn chùa Long Khánh Quy Nhơn đã cung thỉnh Ngài
làm Giáo thọ A Xà Lê.
Năm
1969, Giáo Hội cải tổ và hệ thống hóa tổ chức hành chánh
các Phật học viện toàn quốc, Ngài lần lượt được suy
cử các chức vụ như: Cố vấn, Giám luật, Giáo thọ trưởng...
ở nhiều Phật học viện nhất là ở hai Phật học viện
Nguyên Thiều và Phước Huệ.
Năm
1971, miền Vạn Hạnh tổ chức Đại giới đàn Vĩnh Gia tại
Phật học viện Phổ Đà, Đà Nẵng, Ngài được cung thỉnh
vào hàng Thập sư truyền giới.
Năm
1973, miền Liễu Quán tổ chức Đại giới đàn Phước Huệ
tại Phật học viện Trung phần Nha Trang, Ngài được cung thỉnh
làm Yết Ma A Xà Lê truyền giới.
Ngài
luôn xem nhiệm vụ nhiếp hóa đồ chúng bằng “Trực tâm
thị đạo tràng”. Vì vậy những đóng góp tích cực của
Ngài cho đạo pháp và dân tộc là tiếng nói chung cho Tăng
Ni Phật tử noi theo. Sau năm 1975, Ngài được mời giữ chức
vụ Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh
Nghĩa Bình.
Năm
1979, Ngài được mời vào Ban vận động thống nhất Phật
giáo Việt Nam do Hòa thượng Trí Thủ làm Trưởng ban.
Năm
1981, tại Đại hội Đại biểu Thống nhất Phật giáo toàn
quốc họp tại Hà Nội, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam được
thành lập, Ngài được suy cử vào Hội đồng Chứng minh Trung
ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.
Năm
1986, Ngài đã góp phần vận động thành lập Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam tỉnh Nghĩa Bình khóa 1. Và Cố vấn cho Ban Trị
sự Phật giáo tỉnh trong khóa 2.
Từ
năm 1982 đến 1985, tại Tổ đình Long Khánh (Quy Nhơn), Ngài
liên tục được cung thỉnh làm Thiền chủ trong các mùa An
cư kiết hạ.
Ngày
17 tháng 11 năm Bính Dần (1986), Ngài bắt đầu nhuốm bệnh
và đã nhận thấy trước cơ duyên viên mãn. Theo nguyện vọng
của Ngài và Sơn môn, Ngài được đưa về chùa Thiên Đức
ngày 30.01.1987 để tịnh dưỡng. Trong thời gian này Ngài đã
ân cần dạy bảo Tăng chúng, Phật tử những điều thiết
yếu để có thể sống hữu ích cho đạo, cho đời.
Bốn
giờ sáng, ngày mùng 4 tháng giêng năm Đinh Mão (1.2.1987) tại
chùa Thiên Đức - Bình Định, Ngài đã an nhiên thị tịch,
hưởng thọ 77 tuổi đời, 57 hạ lạp, sau bao năm sống vì
hạnh nguyện độ sanh.