HÒA
THƯỢNG
THÍCH
VĨNH ĐẠT
(1911
- 1987)
Hòa
thượng họ Nguyễn húy Hồng Hạnh, hiệu Vĩnh Đạt, thuộc
dòng Lâm Tế thứ 40, sinh năm Tân Hợi (1911) tại xã Mỹ Nhơn,
huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, trong một gia đình làm nghề nông
sùng mộ đạo Phật.
Năm
lên 9 tuổi, Ngài được song thân cho phép xuất gia, thí phát
với Hòa thượng Khánh Thông ở chùa Bửu Sơn, xã Tân Thủy,
huyện Ba Tri. Bổn sư cho Ngài thọ giới Sa Di vào ngày mồng
một tháng 7 năm Tân Dậu (1921). Bấy giờ trong chùa Tăng chúng
tu học khá đông, nên Ngài được Bổn sư cho lui tới hầu
cận học đạo với Hòa thượng Khánh Hòa là đồng môn huynh
đệ của Bổn sư ở chùa Tiên Linh tỉnh Bến Tre và Hòa thượng
Từ Phong ở chùa Giác Hải, Chợ Lớn.
Năm
20 tuổi (Tân Mùi - 1931), Ngài được thọ Cụ Túc giới, rồi
đi tham học các nơi. Bấy giờ bắt đầu có phong trào chấn
hưng Phật giáo ở Nam kỳ do Hòa thượng Khánh Hòa chủ xướng.
Nhiều Phật học đường được tổ chức khắp nơi để đào
tạo Tăng tài, quan trọng nhất là Phật học đường Lưỡng
Xuyên. Đến đâu Ngài cũng một lòng khiêm cung học hỏi và
gìn giữ tốt nếp sống thanh qui tự viện, nên được mọi
người mến thương, nhắc nhở.
Năm
24 tuổi (1925), Ngài được Bổn sư truyền pháp, ban cho bài
kệ như sau:
Hồng
huy kế chánh tông
Hạnh
hòa phước huệ thông
Vĩnh
truyền Tăng tục đạo
Đạt
ngộ liễu chơn không.
Sau
đó Ngài được bổ xứ về làm trú trì chùa Bửu Linh ở
xứ Cái Mít thuộc xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm,
tỉnh Bến Tre. Tiếp đến Cách Mạng Tháng Tám thành công rồi
Nam bộ kháng chiến. Ngài cùng toàn dân chống giặc cứu nước.
Trong thời gian này Ngài tham gia công tác cho Mặt trận Việt
Minh và là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Phật giáo Cứu quốc
tỉnh Bến Tre.
Trong
quá trình hoằng dương chánh pháp, hóa độ chúng sinh, Ngài
đã từng trú trì nhiều chùa, như chùa Long Phước tại thị
xã Vĩnh Long, chùa Vạn Đức nơi đặt Phật học đường Sóc
Trăng. Ngài cũng đến giảng dạy tại khóa an cư kiết hạ
tại chùa Tam Bảo - Hà Tiên.
Năm
1962, sau khi dự khóa tu nghiệp trụ trì “Như Lai Sứ Giả”
tổ chức tại chùa Pháp Hội (Sài Gòn), Ngài được chư Tôn
đức Giáo Hội Tăng Già Nam Việt bổ nhiệm về trú trì Phước
Hưng Cổ Tự tại thị xã Sa Đéc.
Trong
chức vụ trú trì, Ngài bắt tay vào việc chỉnh đốn lại
quy luật thiền môn cho phù hợp với đường lối Giáo hội
đương thời, kiến thiết và sửa sang lại chánh điện, cổng
rào, Đông Tây lang, kiến tạo lại các tháp của chư vị trú
trì tiền bối, xây thành tượng đài Quán Âm lộ thiên. Ngài
còn cho xây Phật học đường chùa Bửu Quang và tháp thờ
Xá lợi Phật trong khuôn viên chùa, xây Tăng xá, Pháp Bảo
đường để tàng trữ kinh sách, làm cơ sở cho Phật học
viện trong tương lai. Công trình này rất qui mô, nên thực
hiện trong nhiều năm cho đến cuối đời Ngài vẫn chưa hoàn
mãn. Mặc dù chưa hoàn chỉnh hết, nhưng trên đại thể phong
cảnh rất đẹp, làm tăng thêm pháp hỉ cho người.
Năm
1964, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành
lập, Tăng Ni và Phật tử tỉnh Sa Đéc cung thỉnh Ngài vào
ngôi vị Chánh đại diện Tỉnh Giáo Hội.
Sau
ngày nước nhà thống nhất, năm 1982 Tỉnh hội Phật giáo
Đồng Tháp được thành lập, Ngài lại hoan hỉ lãnh trọng
trách Trưởng Ban Trị Sự Tỉnh Hội, khai mở và chứng minh
các đàn giới, các khóa an cư kiết hạ trong tỉnh cho đến
ngày viên tịch.
Năm
1987, huyễn thân tứ đại đến hồi suy yếu. Dù pháp thể
bất an, Ngài vẫn thản nhiên giữ chánh niệm. Vào đêm rằm
tháng 9 năm Đinh Mão, sau khi tắm gội sạch sẽ, Ngài cho gọi
môn đồ đến dặn dò các Phật sự và chuyển giao công việc
còn lại. Thấy môn đồ buồn khóc trước lúc vĩnh ly, Ngài
bèn nhắc lời Cổ Đức rằng:
Sanh
tùng hà xứ khứ
Tử
tùng hà xứ lai
Tri
đắc lai xứ khứ
Phương
danh học đạo nhơn.
Đọc
xong Ngài an nhiên từ biệt đại chúng. Lúc đó là giờ Hợi.
Ngài trụ thế 76 năm, giới lạp 56 hạ, pháp lạp 52 thu.