HÒA
THƯỢNG
THÍCH
TRÍ HƯNG
(1908
- 1986)
Hòa
thượng pháp hiệu là Trí Hưng, pháp tự Đạo Long, thế danh
là Nguyễn Tăng. Sinh ngày mồng 8 tháng 7 năm Mậu Thân (1908)
tại làng Thạch Trụ, xã Đức Mỹ, quận Mộ Đức, tỉnh
Quảng Ngãi.
Ngài
sinh trưởng trong một gia đình nhiều đời làm quan triều
đình và kính tin Phật pháp. Thân phụ Ngài là quan Đại thần
Cần Chánh Đại học sĩ, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị
Định. Song thân của Ngài bình sinh rất ngưỡng mộ đức
độ vị Đệ tứ Tổ sư Tổ đình Thiên Ấn - Quảng Ngãi,
thường hay đến hỏi pháp, nghe giảng, do đó Tổ Giác Tánh
đã phú chúc cho hai người sau này có người con xuất gia học
đạo. Với một gia đình tin hiểu Phật pháp thì lời phú
chúc đó mang đến rất nhiều niềm hoan hỷ. Vì vậy sau khi
sinh, thân mẫu đã bồng Ngài đến xin quy y với Tổ Hoằng
Phúc (Đệ Ngũ Tổ Sư Tổ đình Thiên Ấn - Quảng Ngãi) được
Tổ đặt cho Ngài pháp danh Chơn Miên.
Lúc
trẻ Ngài được theo học trường Quốc học Khải Định và
trường nhà Dòng Pellerin ở Huế đến hết bậc Trung học.
Trong thời gian này, Ngài vẫn thường xuyên theo cha mẹ đến
chùa lễ Phật và nghe pháp. Tuy nhiên, do sinh trưởng trong gia
đình quý tộc và chịu nhiều ảnh hưởng bởi nghi thức triều
đình, nên năm Đinh Mão (1927) Ngài buộc phải lập gia đình
khi vừa 19 tuổi.
Năm
Canh Ngọ (1930) lúc 22 tuổi, Ngài nhất quyết cắt ái ly gia,
chọn đồi núi Đá Đen thuộc thôn Cổ Lủy, tỉnh Quảng Ngãi,
lập một thảo am lấy hiệu là Thạch Liêm, để làm nơi tu
dưỡng và nghiên cứu giáo lý. Trong vòng hai năm tự tu học
tại đây, Ngài được sự hỗ trợ, chỉ giáo thường xuyên
của Hòa thượng Diệu Nguyên.
Năm
Quý Dậu (1933) Ngài thọ Sa Di giới với Hòa thượng Hoằng
Thạc, trụ trì chùa Sắc Tứ Thạch Sơn, được Hòa thượng
phú pháp tự là Đạo Long. Từ đấy Ngài ở chùa này hành
đạo cho đến năm Giáp Tuất (1934) thì thọ Tam đàn Cụ túc
giới, cũng tại giới đàn chùa Thạch Sơn. Năm Ất Hợi (1935),
Bổn sư Hoằng Thạc xét thấy đức hạnh và tài năng của
Ngài khả dĩ làm nhiều lợi ích cho Phật pháp ngày mai nên
phú pháp hiệu Trí Hưng và truyền y bát. Liền sau đó, Ngài
được Hòa thượng cùng toàn thể sơn môn cử đảm đương
chức vụ Giám viện chùa Sắc Tứ Thạch Sơn. Trong thời gian
điều hành, Ngài đã cho sửa sang lại trượng thất và giảng
đường, nhờ vậy ngôi Tổ đình Sắc Tứ Thạch Sơn càng
thêm trang nghiêm, tráng lệ.
Năm
Mậu Dần (1938), Chư tôn Hòa thượng hiệp cùng chư sơn thuộc
sáu phủ huyện trong tỉnh cung thỉnh Ngài giữ chức Kiểm
Tăng tỉnh Quảng Ngãi.
Năm
Kỷ Mẹo (1939), Ngài được chính thức cử giữ chức trụ
trì chùa Sắc Tứ Thạch Sơn thay Hòa thượng Hoằng Thạc đã
già yếu. Chính vì nhiệm vụ này nên Ngài không thể tiếp
tục đảm nhận chức Kiểm Tăng và định thoái thác, nhưng
Chư sơn tỉnh Quảng Ngãi và Tăng Cang Diệu Quang nhận thấy
Ngài có đức độ và khả năng, ân cần mời Ngài đảm đương
Kiểm Tăng Sơn môn lần thứ hai. Lần này Ngài đã lập bản
Tăng ước, chỉnh đốn hàng ngũ Tăng Ni và tiến hành làm
lý lịch Tăng tịch. Bên cạnh đó, Ngài còn đề xuất với
chính phủ xin xác nhận các danh lam cổ tự trong tỉnh. Hơn
500 Tăng Ni cùng hàng vạn tín đồ của hơn 100 ngôi chùa trong
tỉnh đã hỗ trợ Ngài một cách triệt để. Ngài cũng đã
từng làm Chứng minh, Chủ hương, Hóa chủ rất nhiều trường
hạ từ Trung vào Nam. Ngoài ra, Ngài còn tìm mọi cách hỗ trợ,
giúp đỡ Chư sơn trong tỉnh trùng tu, kiến tạo hoặc chứng
minh nhiều ngôi chùa, Tổ đình. Tổ Phước Huệ (chùa Thập
Tháp Bình Định) cảm mến công đức ấy, đã tặng Ngài bức
hoành với 4 chữ “Giác Hoàng Tứ Nhơn”.
Năm
Mậu Dần (1938), Hội An Nam Phật Học tỉnh Quảng Ngãi được
thành lập do Bác Sĩ Lê Đình Thám và Bác Sĩ Hoàng Mộng Lương
chủ xúy ở Huế và Quảng Ngãi, Ngài cùng Đại lão Hòa thượng
Hoằng Thạc và Tăng Cang Diệu Quang được cung thỉnh làm Chứng
minh Đạo sư kiêm cố vấn đạo hạnh cho Tỉnh hội. Ngài
đã kêu gọi khắp nơi ủng hộ cho hội trong bước mở đầu
nhưng quan trọng trong lịch sử Phật Giáo nước nhà. Năm này,
Ngài hợp cùng Tăng Cang Diệu Quang trùng tu chánh điện Tổ
đình Thiên Ấn. Cũng năm này, chùa Phước Sơn huyện Bồng
Sơn, tỉnh Bình Định khai đại giới đàn thỉnh Ngài làm
Đệ thất Tôn chứng.
Năm
Kỷ Mão (1939), chùa Từ Lâm do Ngài kiến tạo được triều
đình sắc tứ biểu ngạch và Ngài được sắc chỉ chuẩn
phong Tăng Cang.
Năm
Giáp Thân (1944), Ngài chứng minh Giới đàn tại chùa Thiên
Phước, quận Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, do Ngài Yết ma Khánh
Hạ tổ chức. Những năm kế tiếp, Ngài đảm nhận chức
Kế Tổ Thiên Ấn. Chùa Thiên Đức ở Gò Bồi (Bình Định)
khai Đại giới đàn, cung thỉnh Ngài chứng đàn. Rồi chùa
Thiên Ấn bị bão lụt tàn phá, Ngài đứng ra đảm trách trùng
tu lại.
Năm
Đinh Hợi (1947), khi vừa đặt chân đến Huế để an dưỡng,
ngày 12-4 Ngài được Sơn môn tỉnh Thừa Thiên mời giữ chức
Tổng Thư Ký Hội đồng Trị sự Sơn môn, tiếp theo đó là
chức Tòng Lâm Thuyền Chủ của tổ chức Chư Sơn Thuyền Lữ,
trụ sở đóng tại chùa Ngự Chế Diệu Đế. Đến ngày 2-7,
Ngài lại được cung thỉnh trụ trì Tổ đình Huệ Lâm. Từ
đó, Ngài vẫn nguyên chức Tòng Lâm Thuyền Chủ kiêm Hội
trưởng Sơn môn Tăng Già Trung Việt.
Năm
Nhâm Thìn (1952),đáp lời mời của Phật giáo miền Bắc, ngày
5-3 Ngài ra thăm Hà Nội. Ngài đã đến viếng Tổ Vĩnh Tường
tại chùa Thần Quang Ngũ Xã, Tổ Thuyền gia Pháp chủ Mật
Ứng tại chùa Hòa Giai, Sư cụ chùa Bà Đá và chiêm bái các
danh lam thắng tích của miền Bắc.
Tháng
3/1955 Chư sơn Quảng Ngãi cung thỉnh Ngài trở lại tỉnh nhà
và trùng tu Tổ đình Thiên Ấn. Ngài chứng minh thành lập
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi để hợp pháp
hóa việc hoằng đạo và tiến hành đại hội thành lập Phật
Giáo Cổ Sơn Môn sau này. Dần dà Ngài tạo nhiều cơ sở như
Tổ đình Bác Ái ở Kontum, kêu gọi những người có cảm
tình với Sơn môn ủng hộ. Khi duyên hạnh tròn đầy, kể
từ ngày có Đại hội Lục Hòa Tăng Sài Gòn ngày 01-10-1957,
từ sự ủy nhiệm đặc trách Trung Nguyên và Cao Nguyên Trung
phần, được tư thế hợp pháp và sự chấp thuận của tỉnh
đường Quảng Ngãi, Ngài triệu tập đại hội tại chùa Sắc
Tứ Từ Lâm ngày 29-4-1958 để thay đổi danh hiệu hội và
bầu Ban quản trị Tỉnh Giáo hội Phật giáo Cổ Sơn Môn,
và Ngài được cử chức Tăng trưởng Tỉnh hội. Sau đó hàng
trăm chi hội, tỉnh hội ở miền Trung được thành lập và
thu nạp rất nhiều tín đồ.
Ngày
11-4-1960 (Canh Tý), Ngài tổ chức khánh thành trùng tu chùa Sắc
Tứ Từ Lâm rất trọng thể. Năm Tân Sửu (1961), Ngài khai
trường hạ tại đây do Ngài làm chứng minh và hóa chủ. Đến
ngày 6-7-1961, Ngài lại khai giới đàn 3 ngày đêm cũng tại
chùa Sắc Tứ Từ Lâm. Tại giới đàn này Ngài được tấn
phong Hòa Thượng (53 tuổi, 27 hạ lạp). Do đó, đây là lần
đầu tiên Ngài thí giới theo nguyện vọng của Tăng tín đồ
khắp nơi. Giới đàn này được nhiều vị danh Tăng toàn quốc
tham dự chứng minh cũng như giảng dạy.
Ngày
6-6 năm Nhâm Dần (1962), toàn thể Chư sơn tỉnh Quảng Ngãi
cùng môn đệ của Ngài khởi công xây cất ngôi bửu tháp
bên cạnh chùa Sắc Tứ Từ Ân lấy tên là Linh Sơn Bửu Tháp
để lưu niệm và tỏ lòng tôn kính công đức vô biên của
Ngài. Sau đó Ngài vào Sài Gòn để cùng Chư tôn đức khác
vận động thành lập Trung ương Giáo hội Phật giáo Cổ Sơn
Môn Việt Nam. Đại hội thành lập được tiến hành ngày
12-6-1963 tại Tổ đình Giác Lâm, Phú Thọ Hòa-Gia Định. Trong
Đại hội này, Ngài được cử giữ chức Phó Tăng Thống
Quản Tăng Trung ương GHPGCSMVN, Hòa thượng Huệ Tâm là Tăng
Thống, Hòa thượng Huệ Minh là Tăng thống Hành chính. Thời
gian tiếp theo, Ngài cùng các cấp lãnh đạo Giáo Hội đi xuống
các tỉnh miền Tây phát triển cơ sở hạ tầng. Sau đó Ngài
trở về Quảng Ngãi, rồi vào Tổ đình Linh Sơn Trường Thọ
Tự, núi Tà Cú tỉnh Bình Tuy chứng minh công việc xây cất
tượng đức Bổn Sư nhập diệt (dài 59 thước). Ngày 8 tháng
2 năm Giáp Thìn (1964) nhân Đại Hội Chu Niên, Văn phòng Trung
Ương Giáo Hội Cổ Sơn Môn chia ra làm hai Viện: Viện Đạo
Thống và Viện Hành Đạo, Ngài được cử làm Phó Đạo Thống
(thuộc Viện Đạo Thống).
Ngày
13 tháng 2 năm Ất Tỵ (1965), Ngài được mời trụ trì chùa
Thiền Lâm số 570/2 đường Lục Tỉnh, Phú Lâm, Chợ Lớn.
Ngày
26 tháng 9 năm 1966, Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc
quyết nghị sát nhập 2 Viện Tăng Thống và Hành Đạo thành
một viện duy nhất là Viện Tăng Thống. Ngài được cử giữ
chức Phó Tăng Thống kiêm hành chánh và điều hành Giáo Hội.
Từ chức vụ này, Ngài tiếp kiến nhiều vị danh Tăng nước
ngoài như Đại Đức Narada Maha Théra (Tích lan), Thượng Tọa
Yoshioka (Phật giáo Tăng Già Nhật Bản), Ngài Hội trưởng
Phật Giáo Nam Hàn...
Ngày
15 tháng 2 năm Bính Thìn (1976), Ngài khai mở trường Hương
tại chùa Thiền Lâm, quy tụ hơn 100 giới tử từ các tỉnh
hội.
Tuổi
già sức yếu sau hơn 50 năm hành đạo, hoằng pháp lợi sanh
rộng khắp Trung, Nam, ngày 14 tháng 9 năm Bính Dần nhằm 17-10-1986
Ngài đã viên tịch tại chùa Thiền Lâm, thọ thế 79 năm,
được 57 tuổi hạ .