HÒA
THƯỢNG
THÍCH
MINH NGUYỆT
(1907
- 1985)
Hòa
thượng Thích Minh Nguyệt, thế danh là Lý Duy Kim, sinh ngày
19.12.1907, trong một gia đình trung nông, tại xã Tân An, tỉnh
Thủ Dầu Một (nay là Sông Bé).
Năm
Kỷ Mùi (1919), khi vừa đúng 13 tuổi, Ngài đến chùa Thiên
Thai (tỉnh Bà Rịa) xin xuất gia, tu học với Tổ Huệ Đăng,
vốn là một Tăng sĩ tài ba, một nhà Nho uyên thâm có tinh
thần yêu nước.
Trong
thời gian tu học tại đây, ngoài những thời khóa, Ngài được
gần gũi, hầu cận bên Tổ Huệ Đăng. Do đó Ngài đã có
được những cảm nghĩ ban đầu về tinh thần dân tộc khi
được dự nghe những buổi tọa đàm giữa Tổ Huệ Đăng
và cụ Nguyễn Sinh Sắc (thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh).
Ý thức cách mạng nảy nở trong lòng và Ngài luôn luôn trăn
trở về điều ấy.
Năm
Mậu Dần (1938), ý chí nâng cao tri kiến bằng cách đem đạo
Phật vào cuộc đời và tinh thần yêu nước thôi thúc, Ngài
xin phép Bổn sư để vân du tham học khắp nơi, vừa mở mang
trí tuệ, vừa thâm nhập thực tại hoàn cảnh đất nước
ở nhiều khía cạnh. Bước chân Ngài đã nhiều lần đến
chùa Phật Bổn (Cần Thơ), Bửu Long (Mỹ Tho), Long An (Sài gòn),
Vĩnh Tràng (Tiền Giang), Ô Môi (Vĩnh Long), Thiên An v.v... Đó
là những cuộc thuyết giảng, những bước chân giáo hóa chúng
sanh, để lại trong lòng Tăng Ni Phật tử mọi nơi hình ảnh
tốt đẹp về hạnh nguyện của Ngài.
Năm
Canh Thìn (1940), cùng với cao trào chấn hưng Phật giáo, cuộc
khởi nghĩa Nam Kỳ đã nổ ra. Trách nhiệm đạo - đời, Ngài
vẫn hàng ngày nhắc nhở mình phải chu toàn. Trong bối cảnh
phong trào chấn hưng Phật giáo, khi suy lúc thịnh, do nhiều
yếu tố thời cuộc chi phối, đặc biệt là bàn tay phá rối
từ phía thực dân và những người theo thực dân và trước
nạn đồng bào bị áp bức bóc lột, tàn sát, lòng yêu nước
của Ngài càng được nung nấu thêm. Đến khi hay tin Hòa thượng
Trí Thiền (chùa Tam Bảo, Rạch Giá) bị bắt và lưu đày Côn
Đảo, Ngài đã chuyển lòng yêu nước của mình thành hành
động tích cực.
Năm
Ất Dậu (1945), Cách Mạng Tháng Tám thành công, cũng là lúc
bề dày hoạt động của Ngài đã đủ chứng minh cho lòng
yêu nước nồng nàn ấy. Ngài hoạt động khi chìm khi nổi,
ẩn hiện khắp mọi nơi với bí danh Tam Không. Liên tục sau
đó Ngài được mọi người tín nhiệm bầu vào các chức
vụ như Hội trưởng Hội Phật Giáo Cứu Quốc Nam bộ, Hội
trưởng Hội Phật Giáo Cứu Quốc tỉnh Mỹ Tho, Hội trưởng
Hội Phật Giáo Cứu Quốc khu Sài gòn - Gia Định, Ủy viên
Mặt trận tỉnh Mỹ Tho, Ủy viên khu Sài Gòn - Gia Định và
kỳ bộ Việt Minh Nam bộ.
Là
một công dân yêu nước nồng nàn, đồng thời là một Tăng
sĩ vốn đã được trang bị tinh thần bi, trí, dũng của chốn
thiền môn nên hoạt động chống thực dân và phát triển
Hội Phật Giáo Cứu Quốc đều được Ngài tiến hành song
song ở từng địa bàn, nhất là chùa Ô Môi (Đồng Tháp Mười)
nơi đặt trụ sở của Hội Phật Giáo Cứu Quốc Nam Bộ.
Bất chấp mọi gian nguy, Ngài đã đi khắp nơi vận động
và đấu tranh ngay trong vùng thực dân kiểm soát. Và trong nội
thành Sài Gòn cũng không thiếu dấu chân Ngài.
Năm
Giáp Ngọ (1954) sau Hiệp định Genève, Ngài ở lại miền Nam
hoạt động cùng các vị khác. Ngài vận động được rất
nhiều tự viện làm cơ sở giúp đỡ che giấu cán bộ hoạt
động cách mạng ngay trong vùng bị kiểm soát. Lúc này Ngài
là vị tiêu biểu cho lực lượng Tăng sĩ hoạt động yêu
nước, vì thế chính quyền Ngô Đình Diệm chú ý và theo dõi
rất gắt gao từng bước đi của Ngài. Một mặt, chúng ra
sức dùng mọi thủ đoạn hòng mua chuộc, lôi kéo Ngài, thậm
chí tạo cơ hội cho Ngài lãnh đạo một tổ chức Phật giáo
hữu danh vô thực, có sự bảo hộ, tài trợ từ phía chính
quyền... Nhưng Ngài đã khéo léo từ khước, vẫn tiếp tục
con đường cách mạng đã đi. Trong thời gian hoạt động bí
mật, Ngài từng chủ trương xuất bản nguyệt san Tinh Tấn
(1947) và tập san Tổ Quốc (1956).
Năm
Canh Tý (1960) ngày 6-4, một cơ sở bị lộ. Tất cả cán bộ
cốt cán bị bắt, trong đó có Ngài. Nhân cơ hội này chính
quyền không ngớt rêu rao về tội danh “phản nghịch” của
Ngài, hòng làm lung lạc những người yêu nước khác. Và để
tăng thêm sức mạnh cho mục đích đó, Ngài bị đày ra Côn
Đảo với mức án 20 năm tù khổ sai.
Năm
Giáp Dần (1974), sau khi Hiệp định Paris được ký kết, Ngài
được trao trả về vùng giải phóng Lộc Ninh. Như vậy Ngài
đã bị lưu đày khổ sai nơi Côn Đảo hơn 15 năm.
Khi
được tự do, Ngài liên lạc với các vị giáo phẩm lãnh
đạo khác trong các tỉnh phía Nam, để chuẩn bị cho lực
lượng Phật giáo tham gia nổi dậy cùng các mũi tiến công
của Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Năm
Ất Mão (1975), miền Nam hoàn toàn giải phóng, Ngài gặp lại
các vị lãnh đạo Phật giáo sau bao nhiêu năm xa cách. Bằng
khả năng và uy tín của mình trước tình hình mới của đất
nước, Ngài đảm đương các chức vụ Phó chủ tịch Ủy
Ban Mặt Trận Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy viên đoàn chủ tịch
Ủy ban Trung Ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam. Ngoài ra Ngài
còn làm Chủ tịch Ủy ban Liên lạc Phật giáo Yêu nước Thành
phố Hồ Chí Minh, với nhiệm vụ liên lạc Tăng Ni Phật tử
đoàn kết, xây dựng tổ quốc trong giai đoạn mới.
Để
hậu thuẫn cho mục đích này, Ngài lãnh chức Chủ nhiệm Báo
Giác Ngộ, tờ báo Phật giáo đầu tiên tại các tỉnh phía
Nam sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất. Và để thắt
chặt thêm tình hữu nghị, Ngài đã cùng Hòa thượng Trí Thủ,
Hòa thượng Minh Châu... tham dự Hội nghị Tôn giáo Thế giới
được tổ chức tại Mátx-Cơ-Va - Liên Xô, tham quan Phật giáo
Liên Xô ở vùng Bu-ri-át, Hội nghị Tổ chức Phật tử Châu
Á vì Hòa Bình tại Mông Cổ. Trong dịp này Ngài được tặng
nhiều huân chương hữu nghị.
Ban
trù bị Đại hội Thống Nhất Phật Giáo Việt Nam được
thành lập, Ngài là Phó Ban vận động kiêm Trưởng ban Thông
tin. Năm Tân Dậu (1981), tại Đại hội Đại biểu Phật giáo
toàn quốc tổ chức ở Hà Nội, Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam ra đời với tầm vóc đại thể xuyên suốt, có hiến chương
chặt chẽ. Ngài được suy cử ngôi vị Phó Pháp Chủ thường
trực Hội Đồng Chứng Minh Trung Ương.
Thời
gian tiếp theo sau đó, Ngài về an trú và làm việc tại chùa
Long Hoa (quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh). Tại đây, ngày 28
tháng chạp năm Giáp Tý (18/1/1985) Ngài đã viên tịch, thọ
77 tuổi đời, và 57 năm hành đạo.
Kim
quan Ngài được đưa về nhập tháp nơi chùa Tổ Thiên Thai
(tỉnh Bà Rịa) theo phó chúc “Uống nước nhớ nguồn, lá
rụng về cội”.
Xét
về ý nghĩa, tuy là Tam Không, song thực thế là Minh Nguyệt,
vẫn hằng chiếu sáng. Như thế, tại cõi Ta bà này Ngài đã
để lại trong lòng mọi người sự nhập thế của một Tăng
sĩ giàu lòng yêu nước.