HÒA
THƯỢNG
THÍCH
THẾ LONG
(1909
- 1985)
Hòa
thượng họ Phạm, pháp danh Thế Long, sinh năm Kỷ Dậu (1909)
tại xã Hải Anh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Hà, trong một gia
đình Nho phong thanh bạch có truyền thống thâm tín Phật pháp.
Ngài là người con út nhưng cũng là người con trai duy nhất
của cụ Phạm Văn Ngoan tức Ngôn và cụ bà Trần Thị Thanh,
pháp danh Diệu Thái. Sau khi sinh ra Ngài, cụ bà đồng ý để
cụ ông xuất gia. Cụ Phạm Văn Ngoan xuất gia ở chùa Nội,
thị trấn Cổ Lễ với pháp danh Thích Thanh Cát và cả hai
người chị gái của Ngài cũng xuất gia.
Năm
1915, nhân chuyến về thăm nhà, sư cụ Thanh Cát đã khuyên
gia đình cho Ngài xuất gia. Ngài được yết kiến Sư tổ Quang
Tuyên (1) lúc đó đang trụ trì chùa Thủy Nhai, xã Xuân Thủy,
huyện Xuân Thủy - Nam Hà. Ngài xuất gia thế phát tại đây,
sau đó được sang chùa Thượng Phúc tham học.
Năm
1929, Ngài được Tam sư Thất chứng trao truyền Cụ Túc giới,
nối pháp đời thứ 46 dòng Tào Động, sơn môn Phú Ninh - Nam
Định. Sau đó, Ngài được đến tham học tại Tổ đình Liên
Phái - Hà Nội.
Năm
1934, Tổ Quang Tuyên viên tịch, Ngài trở về Cổ Lễ chịu
tang và tiếp tục công việc kiến tạo chùa Cổ Lễ mà nghiệp
sư đang làm. Ngài thỉnh Sư tổ Thạch Cầu về chùa Cổ Lễ
làm thầy y chỉ, hoàn thành cây Cửu Phẩm, đúc được Đại
Hồng Chung nặng 9 tấn, tạo dựng nhà hội quán và hoàn thành
các công trình kiến trúc hai bên của tòa chính điện. Ngoài
ra, Ngài cũng tái tạo chùa Thủy Nhai, Thượng Phúc v.v... Hàng
năm, Ngài tổ chức lễ hội mừng đản sinh Thiền sư Không
Lộ từ ngày 11 đến ngày 14 tháng 9 âm lịch, có hàng vạn
lượt người đến tham dự cầu nguyện, chiêm bái.
Sau
khi chùa Cổ Lễ được tôn tạo hoàn chỉnh, Ngài thỉnh các
bậc tôn túc Hòa thượng và Tăng Ni về kết túc an cư trong
3 tháng hạ. Cứ duy trì đều đặn như vậy trong suốt hơn
nửa thế kỷ. Năm nào chùa Cổ Lễ cũng là trường hạ của
Tăng Ni phía Nam tỉnh Nam Hà. Ngài tận tâm trông nom cúng dường
mọi vật dụng cần thiết để chư Tăng Ni an tâm tu học,
với cương vị là trụ trì, rồi đường chủ, chủ giảng
trong các khóa hạ. Có năm chư Tăng an cư gần 150 vị. Chùa
Cổ Lễ cũng là nơi tổ chức nhiều giới đàn của Phật
giáo tỉnh Nam Hà. Ngài được mời làm Hòa thượng Đàn đầu,
Hòa thượng A Xà Lê ở các giới đàn chùa Cổ Lễ và giới
đàn Thánh Ân (chùa Cả - Nam Định)...
Về
mặt Phật sự, Ngài là một trong những bậc giáo phẩm cao
cấp của Phật giáo Việt Nam và của Phật giáo tỉnh Nam Hà.
- Trong
suốt thời kỳ 1958 - 1981, Hội Phật Giáo Thống Nhất Việt
Nam (miền Bắc) hoạt động, Ngài được cử giữ chức vụ
Phó hội trưởng, Hội trưởng Phật giáo tỉnh Nam Hà.
- Tháng
10 năm 1964, Đại hội kỳ III Trung ương Hội Phật Giáo Thống
Nhất Việt Nam, Ngài được suy cử vào Ban trị sự Trung ương.
- Năm
1971, tại Đại hội kỳ IV Trung ương Hội Phật Giáo Thống
Nhất Việt Nam, Ngài được suy cử chức Phó Hội trưởng
kiêm Tổng thư ký Ban trị sự Trung ương.
Năm
1973, Ngài cùng Ban trị sự Trung ương thành lập trường “Tu
học Phật pháp Trung ương” tại chùa Quán Sứ. Trải qua hai
khóa đào tạo, đến năm 1981 trường trực thuộc hệ thống
Giáo dục của Trung ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam và
đổi tên “Trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam cơ sở I”.
- Sau
năm 1975, Ngài cùng quý Hòa thượng miền Trung, miền Nam thành
lập Ban vận động Thống nhất Phật giáo.
- Tháng
11 năm 1981,Đại hội đại biểu thống nhất Phật giáo Việt
Nam lập nên “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam”, Ngài được
thỉnh vào “Hội đồng Chứng minh” và là Phó chủ tịch
Thường trực Hội Đồng Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam.
Về
mặt tham gia công tác xã hội, quan niệm “Phật pháp bất
ly thế gian pháp” nên việc đạo việc đời Ngài đều xả
thân phụng sự.
-
Năm 1945, Ngài là Phó Chủ tịch Tỉnh bộ Việt Minh tỉnh Nam
Định.
- Năm
1947, là Phó chủ tịch Phật giáo cứu quốc Nam Định.
- Năm
1951, là Phó chủ tịch Mặt trận Liên Việt tỉnh Nam Định,
Ủy viên mặt trận Liên Việt toàn quốc.
- Từ
năm 1976 - 1980, là Phó chủ tịch Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc
tỉnh Hà Nam Ninh và là đại biểu Hội Đồng Nhân Dân Tỉnh.
- Ngài
được nhân dân tín nhiệm bầu làm Đại biểu Quốc hội
khóa VII và được Quốc hội cử giữ chức Phó chủ tịch
Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
- Ngài
còn là thành viên tích cực của Hội “Phật Giáo Châu Á
Vì Hòa Bình” (ABCP) trong nhiều khóa, và là Phó chủ tịch
của hội. Ngài đã tham gia nhiều tổ chức Phật giáo quốc
tế tại hầu hết các nước Châu Á, Đông Âu, tham dự các
hội nghị Phật giáo thế giới và đã được Nhà nước tặng
Huân chương Độc Lập hạng hai, Huân chương kháng chiến hạng
ba...
- Ngày
23-3-1985, Ngài viên tịch tại Tổ đình Cổ Lễ, hưởng thọ
76 tuổi. Lễ tang được tổ chức trọng thể với nghi thức
lễ tang Nhà nước. Hòa thượng Pháp chủ Thích Đức Nhuận
đã ban Tháp hiệu của Ngài là An Lạc tháp, và tên hiệu Tế
Mỹ. Cuộc đời hành đạo của Ngài trải qua 56 mùa hạ.
Chú
thích :
(1)
Sư tổ Quang Tuyên là bác tại gia của Ngài.