HÒA
THƯỢNG
THÍCH
THANH TRÍ
(1919
- 1984)
Hòa
thượng thế danh là Hồ Văn Liêu, húy Tâm Huệ, pháp hiệu
Thích Thanh Trí, thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 43. Ngài sinh
ngày mồng 1 tháng 10 năm Kỷ Mùi (21-11-1919) tại làng Phước
Yên, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền (nay là Hương Điền),
tỉnh Thừa Thiên. Là con trai độc nhất trong một gia đình
có năm anh chị em. Thân phụ là cụ ông Hồ Văn Sừng. Thân
mẫu là cụ bà Tô Thị Thục.
Xuất
thân trong một gia đình nề nếp, thấm nhuần đạo Phật,
hằng ngày thường lui tới ngôi Sắc tứ Quảng Phước Tự
trong làng, nên Ngài sớm có ý nguyện xuất gia học đạo.
Năm 12 tuổi, Ngài đã xin phép song thân vào Huế, tìm đến
chùa Từ Hóa, đảnh lễ Đại lão Hòa thượng Trừng Diên,
xin xuất gia và được Hòa thượng hứa khả. Từ đó Ngài
chăm lo học tập kinh luận, tìm hiểu Phật pháp. Đến năm
1936, Ngài đúng 18 tuổi, được thọ giới Sa Di tại giới
đàn chùa Đại Bi tỉnh Thanh Hóa, do Đại lão Hòa thượng
Thích Huệ Minh trú trì chùa Từ Hiếu làm Đàn đầu Hòa thượng.
Tuy
còn là Sa Di, nhưng với tư chất thông minh, đạo hạnh gương
mẫu, nên năm 1940 (22 tuổi), Ngài được Phủ Tôn Nhơn hoàng
tộc xin Giáo hội cho trú trì chùa Diệu Hỷ thành phố Huế.
Hai năm sau, Ngài lại được Giáo hội và Tổ đình Báo Quốc
mời làm Tri sự của Tổ đình. Năm 1948, lúc 30 tuổi, Ngài
thọ Cụ Túc giới tại Đại giới đàn Báo Quốc do Hòa thượng
Thích Tịnh Khiết làm đàn đầu. Sau đó Ngài được Giáo
hội lần lượt giao nhiều trách nhiệm quan trọng.
Năm
1953, Ngài là Ủy viên Tài chánh của Giáo hội Tăng già Trung
Việt. Cũng trong năm này, Ngài đã cùng Giáo hội sáng lập
trường tiểu học Hàm Long với mục đích mở mang về thế
học cho chúng điệu để có được trình độ kiến thức
phổ thông góp phần xứng đáng cho sự nghiệp của Giáo hội.
Đến năm 1957 trường này đã mở lên đến bậc trung học.
Năm
1959, Ngài đứng ra hưng công đại trùng tu Tổ đình Báo Quốc
bằng vật liệu nặng nhưng vẫn giữ được nét cổ kính
của lối kiến trúc Á Đông.
Năm
1963 gặp lúc pháp nạn, Ngài đã cùng chư tôn giáo phẩm, Tăng
Ni, Phật tử đứng lên tranh đấu đòi hỏi tự do tín ngưỡng,
bình đẳng tôn giáo, cùng bị bắt đêm 20-8-1963 khi chính quyền
Ngô Đình Diệm tấn công chiếm chùa.
Năm
1964 Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành
lập, Ngài được mời làm Đặc ủy Tài chánh Kiến thiết
của Tỉnh Giáo Hội Thừa Thiên và Thành phố Huế. Hai năm
sau, Ngài được cử làm Chánh Đại Diện Tỉnh Giáo Hội kiêm
Giám tự Phật học viện Báo Quốc - Huế.
Tết
Mậu Thân 1968, Tổ đình Báo Quốc không may bị bom đạn tàn
phá nặng nề, Ngài lại một lần nữa đứng ra kêu gọi sự
tùy hỷ đóng góp của tín đồ để đại trùng tu Tổ đình.
Đầu
xuân 1970, tại buổi họp của Tổ đình, theo thư đề nghị
của Hòa thượng Trí Thủ, Ngài được mời đảm nhiệm trú
trì Phật học viện Báo Quốc thay Hòa thượng đang bận Phật
sự của Viện Hóa Đạo tại Sài Gòn. Nhưng Ngài vẫn từ
chối, chỉ giữ chức Giám tự như cũ, thay mặt Hòa thượng
Trí Thủ đảm đương Phật sự của Tổ đình và cùng với
Ban quản trị Phật học viện Báo Quốc chăm lo việc giáo
dưỡng Tăng sinh.
Tháng
8 năm 1972, Ngài được Giáo Hội mời giữ trọng trách Chánh
Đại Diện lần nữa của tỉnh Thừa Thiên và Thành phố Huế,
thay thế Hòa thượng Thích Mật Nguyện mới viên tịch. Với
tình cảm yêu quê hương làng xóm, năm 1974 Ngài đã cùng dân
làng Phước Yên, nơi chào đời của Ngài, trùng tu ngôi Sắc
tứ Quảng Phước Cổ Tự mà thuở thiếu thời Ngài hằng
lui tới lễ Phật, nghe kinh.
Năm
1977,Ngài được mời làm Tôn chứng của Đại giới đàn tổ
chức tại chùa Ấn Quang,Sài Gòn, và làm đàn chủ của giới
đàn tổ chức tại chùa Báo Quốc-Huế. Cũng năm này, Ngài
chính thức là Ủy viên của Hội đồng Giáo Phẩm Trung ương
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
Ngày
25-5-1979,Ngài được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Bình
Trị Thiên mời vào phái đoàn đi thăm tỉnh kết nghĩa Savannakhet
của nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào.
Đầu
xuân Canh Thân (1980) trước nhu cầu của lịch sử, Ngài được
mời vào Ban vận động Thống nhất Phật giáo toàn quốc.
Trong Đại hội Thống nhất Phật Giáo 1981, Ngài được cử
làm Ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam. Tháng tư năm Nhâm Tuất (1982), trong đại hội thành lập
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam tỉnh Bình Trị Thiên, Ngài được
bầu giữ chức Trưởng Ban Trị Sự tỉnh kiêm Chánh Đại
Diện Giáo Hội thành phố Huế. Năm 1983 Ngài lại được bầu
vào Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh.
Ngài
không những chỉ lo tu trì, mà còn chỉ đạo tổ chức tự
túc về kinh tế cho Tăng Ni như thành lập các Tổ hợp chế
biến vị trai Lá Bồ Đề, các Tổ hợp nông nghiệp, các Tổ
hợp đan thêu, các Tổ hợp tiểu thủ công nghiệp khác. Nhờ
đó mà Tăng Ni có điều kiện làm ra của cải vật chất,
đóng góp lợi ích chung cho xã hội và cải thiện sinh hoạt
nơi tự viện.
Suốt
cuộc đời Ngài đã dành tâm lực và trí tuệ cộng sự chặt
chẽ với Hòa thượng Thích Trí Thủ trong việc phụng sự
Phật pháp, đào tạo Tăng sinh không mệt mỏi. Khi được tin
Hòa thượng Thích Trí Thủ viên tịch, Ngài đã vào Sài Gòn
và nhận làm chấp lệnh cho Tang lễ.
Đám
tang cố Hòa thượng Thích Trí Thủ vừa xong, chỉ mười ngày
sau Ngài cũng viên tịch tại Tu viện Quảng Hương Già Lam Sài
Gòn vào lúc 13 giờ 30' ngày 13 tháng 3 năm Giáp Tý (13-4-1984),
hưởng thọ 66 tuổi đời, 40 tuổi hạ. Kim quan của Ngài được
đưa về Huế nhập tháp tại chùa Báo Quốc.