HÒA
THƯỢNG
TỊNH
SỰ
(1913
- 1984)
Hòa
thượng Tịnh Sự, thế danh là Võ Văn Đang, sinh năm Quí Sửu
(1913), trong một gia đình có truyền thống Nho giáo, tại một
vùng quê miền Nam, xã Hòa Long, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng
Tháp. Thân phụ Ngài là cụ Võ Văn Tỏ, thân mẫu là cụ Trần
Thị Thông.
Năm
7 tuổi Ngài đã học chữ Nho. Rất thông minh, Ngài được
người đương thời gọi là “Thần đồng Lê Quí Đôn”.
Do túc duyên sẵn có từ nhiều đời, đến năm 12 tuổi Ngài
xuất gia và thọ giới Sa Di tại chùa Bửu Hưng (Sa Đéc). Thấy
Ngài quá thông minh nên Bổn sư đặt pháp danh là Thích Huệ
Lực.
Năm
20 tuổi Ngài thọ giới Tỳ kheo tại chùa Kim Huê-Sa Đéc. Đến
năm 25 tuổi Ngài được bổ nhiệm về trụ trì tại chùa
Phước Định - Chợ Lách. Năm 30 tuổi Ngài trụ trì chùa Viên
Giác-Vĩnh Long. Năm 35 tuổi duyên lành đối với Phật giáo
Nam Tông đã chín mùi, Ngài được du học tại Chùa Tháp Campuchia,
thọ giới theo Phật giáo Nam Tông tại chùa Kùm Pung (Treyloko)
ở Trà Pét.
Từ
Campuchia Ngài có thiện duyên du học tại Thái Lan, thọ giới
Tỳ kheo tại chùa Pakknam Bangkok. Ngài được thầy tế độ
ban pháp danh là Tịnh Sự (Santakicco) vì thấy Ngài chuyên tâm
hành đạo. Tại xứ Phật giáo Thái Lan này, Ngài đã thực
hành hạnh đầu đà, tu thiền Minh Sát và học A Tỳ Đàm (Abhidhamma)
trong bảy năm. Rời Thái Lan về Việt Nam, Ngài trở lại trụ
trì chùa Viên Giác - Vĩnh Long. Ngài bắt đầu mở mang truyền
bá giáo pháp Nguyên Thủy. Ngài dạy Pháp học A Tỳ Đàm Pàli
(Abhidhamma) và Pháp hành Tứ Niệm Xứ.
Muốn
cho môn học Abhidhamma được truyền bá rộng rãi nên vào năm
59 tuổi Ngài về trụ trì chùa Siêu Lý - Sài Gòn. Mở trường
chuyên dạy về môn Abhidhamma và dịch các bộ sách Giáo Khoa
Phật Học như Vi Diệu Pháp Sơ Cấp, Trung Cấp và Chánh Tạng
Abhidhamma.
Ngài
đã đào tạo nhiều thế hệ học trò Vi Diệu Pháp. Các thế
hệ đệ tử này đã kế thừa sự nghiệp của Ngài truyền
bá môn Abhidhamma khắp nơi. Những thế hệ đệ tử Vi Diệu
Pháp đầu tiên hiện nay còn những vị tiêu biểu như Đại
Đức Giác Chánh, cư sĩ Vĩnh Phúc, cư sĩ Trần Quỳnh Hương
đã có công đức duy trì và phát triển môn học Abhidhamma.
Về
phương diện đào tạo Tăng tài, Ngài đã từng làm thầy Tế
độ truyền giới xuất gia cho hàng trăm Sa Di, Tỳ Kheo. Họ
đã tiếp nối được sự nghiệp truyền bá giáo pháp của
Ngài một cách tốt đẹp.
Không
những chỉ đào tạo Tăng tài mà Ngài còn xây dựng rất nhiều
cơ sở tự viện: chùa Viên Giác (Vĩnh Long), chùa Long Linh,
chùa Giác Phước, chùa Pháp Độ, chùa Trúc Lâm, chùa Siêu
Lý, chùa Thiền Quang 1, chùa Thiền Quang 2.
Điểm
nổi bật nhất trong sự nghiệp hoằng pháp của Hòa thượng
là Ngài đã dịch hoàn thành Tạng luận Pàli tức Tạng Abhidhamma
gồm:
1)
Bộ Pháp Tụ (Dhammasangani).
2)
Bộ Phân Tích (Vibhanga).
3)
Bộ Chất Ngữ (Dhà kàthà).
4)
Bộ Nhân Chế Định (PuggalaPanntti).
5)
Bộ Ngữ Tông (Kàthà Vatthu).
6)
Bộ Song Đối (Yamakam).
7)
Bộ Phát Trí (Patthana).
Đó
là phần chánh tạng Abhidhamma. Sau đây là những dịch phẩm
giáo khoa Adhidhamma được giảng dạy tại các trường Phật
Học Thái Lan.
1)
Vi Diệu Pháp Sơ Cấp.
2)
Vi Diệu Pháp Trung Cấp.
3)
Vi Diệu Pháp Cao Cấp.
4)
Thanh Tịnh Đạo.
5)
Diệu Pháp Lý Hợp.
Sự
nghiệp đạo pháp của Ngài vô cùng to lớn. Nhất là Ngài
đã dành hết đời mình để phiên dịch trọn Tạng Vi Diệu
Pháp (Luận Tạng PàLi). Qua công hạnh này, Ngài là một ngôi
sao mà càng nhìn chúng ta càng thấy sáng hơn.
Đêm
mùng 6 tháng 5 năm Giáp Tý, Ngài thọ bệnh. Nửa đêm hôm ấy
Ngài cho gọi Chư Tăng để ban di huấn và gởi lời sám hối
đến Tăng chúng gần xa. Rồi Ngài an trú chánh niệm và viên
tịch lúc 6 giờ 15' sáng ngày 7 tháng 5 năm Giáp Tý (tức 05-06-1984),
hưởng thọ 72 tuổi, hành đạo 52 năm.
Trước
khi viên tịch Ngài đã giảng về sự khổ, rồi mỉm cười
tắt hơi thở cuối cùng. Ngài ra đi nhưng sự nghiệp đạo
pháp của Ngài vẫn còn ở lại với hậu tấn ngưỡng cầu
giải thoát khổ đau, để hằng an vui tự tại nơi Niết Bàn
tịch tịnh.