HÒA
THƯỢNG
THÍCH
THIỆN TƯỜNG
(1917
- 1984)
Hòa
thượng pháp danh là Thanh Giới, tự Chơn Như, hiệu Thiện
Tường, thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 41. Ngài thế
danh Ngô Văn Phải, sinh năm 1917 tại làng Bình Xuân, tổng Hòa
Lạc, tỉnh Gò Công (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Ngài xuất
thân trong một gia đình kính tin Phật đạo. Thân phụ là cụ
Ngô Văn Chồn, thân mẫu là cụ Đỗ Thị Thơ, Ngài là con
thứ hai trong gia đình có 5 anh em. Cô em út sau này nối chí
Ngài, xuất gia hiệu là Tịnh Quang cũng là một trong hàng Ni
chúng lỗi lạc.
Năm
lên 9 tuổi, Ngài sớm mồ côi cha, lại là lao động chính
của gia đình. Vốn bản tính chơn chất hiền hòa và chí hiếu,
Ngài chịu khó với ruộng đồng lam lũ phụ giúp mẹ và dạy
bảo các em. Những lúc rảnh việc mùa màng, Ngài thường cùng
mẹ lên chùa lễ Phật nghe kinh, nhân duyên lần kết và hạnh
nguyện xuất gia được nung nấu trong lòng.
Đến
năm 19 tuổi (Đinh Sửu - 1937), nhân ngày Phật Đản, Ngài tới
chùa Long Quang, làng Bình Thạnh làm lễ thế phát quy y với
Hòa thượng trụ trì. Trải qua bốn năm tinh tấn chuyên cần
tu học, Ngài vẫn chưa thỏa mãn được việc thâm nhập kinh
tạng của mình, Ngài bèn khăn gói y bát nâu sòng lên Sài Gòn
tá túc ở chùa Linh Sơn công quả và tham học. Nơi đây, hạnh
duyên được gặp Hòa thượng Lê Phước Chí, Ngài cầu pháp
thọ học sớm khuya chuyên cần và được truyền trao nhiều
pháp yếu.
Năm
1941, Ngài được thọ tam đàn Cụ Túc giới tại chùa Xuân
Quang ở thị xã Phan Thiết.
Năm
1943, Ngài cùng sư huynh là Hòa thượng Thích Thới An cùng đi
nhiều nơi tham học Phật pháp. Hễ nghe đâu có bậc cao đức
thì Ngài tìm đến xin thụ giáo. Do đó Ngài đã gặp không
ít bậc Thầy lỗi lạc như Hòa thượng Hòa Bình ở chùa Kim
Huê, Hòa thượng Bửu Đạt ở chùa Linh Sơn - Sa Đéc...
Năm
1944, Ngài về làm trú trì chùa Long An ở Sa Đéc, tại đây
diễn ra cuộc hội ngộ đáng nhớ giữa Ngài, Hòa thượng
Thới An, Hòa thượng Khánh Phước với một Tăng khách đặc
biệt là Hòa thượng Hành Trụ, nhân một hôm Hòa thượng
dừng bước trên đường hoằng pháp. Cảm mến đạo hạnh
và kiến thức quảng bác của Hòa thượng Hành Trụ, ba vị
đã cung thỉnh Hòa thượng lưu lại chùa Long An để mở Phật
Học Đường nuôi dạy Tăng chúng tu học, tôn Hòa thượng
làm Huynh trưởng kiêm Hóa chủ ngôi chùa này. Bốn vị đồng
phát nguyện kết nghĩa làm Tăng hữu trọn đời kề vai sát
cánh bên nhau trên con đường hoằng dương chánh pháp, tiếp
Tăng độ chúng.
Năm
1946, tiếp nối phong trào chấn hưng Phật giáo sau khi chiến
tranh chống Pháp tạm lắng, cả bốn vị đều rời miền Tây
lên Sài Gòn thành lập ngôi Tam Bảo ở vùng Khánh Hội đặt
tên là chùa Tăng Già để qui tụ Tăng chúng và mở trường
đào tạo. Đây cũng là Phật học đường đầu tiên ở Sài
Gòn.
Năm
1947, nhận thấy Tăng chúng và Ni chúng về học rất đông,
các vị lại lập nên ngôi già lam thứ hai ở gần đấy là
chùa Giác Nguyên để tiếp độ chúng Tăng, còn chùa Tăng Già
để cho Ni chúng thọ học. Về sau, chùa Tăng Già được đổi
tên là chùa Kim Liên.
Năm
1950, cảm mến ân đức và đạo hạnh của Ngài, Hội Vạn
Thọ hiến cúng cho Ngài ngôi chùa Vạn Thọ ở vùng Tân Định.
Ngài về đấy an trụ và tiếp Tăng độ chúng. Từ đó trải
hơn 10 năm sau, Ngài miệt mài với công việc hoằng dương
chánh pháp và có công gầy dựng trùng tu lại các ngôi già
lam khác như: Tăng Già, Giác Nguyên, Vạn Thọ, Thiền Lâm, Giác
Minh, Quan Âm, Thiên Phước, Hội Tôn...
Năm
1960, Ngài trở về làm Hóa chủ Tổ đình Giác Nguyên nhiếp
độ tứ chúng thay ba vị huynh đệ nhận trú xứ khác để
hoằng dương Phật pháp.
Năm
1963, Ngài đã cùng chư Tăng,Ni và quần chúng Phật tử tham
gia đấu tranh chống chính quyền Ngô Đình Diệm kỳ thị tôn
giáo, đòi bình đẳng và tự do tín ngưỡng.
Năm
1964, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời, từ
năm 1973 liên tiếp ba nhiệm kỳ, Ngài được cử giữ chức
Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Tài chánh Kiến thiết.
Năm
1968, Ngài được cử tham gia phái đoàn Phật giáo Việt Nam
đi thăm các nước Phật giáo như Singapore, Đài Loan, Hồng
Kông và Nhật Bản.
Năm
1969, Ngài làm Hóa chủ kiêm Giám đốc Phật học viện Tổ
đình Giác Nguyên.
Do
giới hạnh trang nghiêm, Ngài được các nơi cung thỉnh làm
giới sư ở các giới đàn để truyền trao giới pháp cho Tăng
Ni trong những năm sau như: Giáo Thọ A Xà Lê tại Đại giới
đàn chùa Ấn Quang năm 1973 và Đại giới đàn Quảng Đức
năm 1977, Đệ nhất Tôn chứng Đại giới đàn Thiện Hòa tại
Ấn Quang năm 1980.
Năm
1981, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam được thành lập, Ngài
được cung thỉnh làm thành viên Hội đồng Chứng minh Trung
Ương.
Những
năm sau đó, vì tuổi già sức yếu, Ngài chỉ an trú nơi Tổ
đình Giác Nguyên, chuyên tâm trực tiếp dạy bảo đồ chúng,
khuyến giáo tín đồ. Ngài còn dành thì giờ dịch kinh, và
lấy việc vãng sanh Tịnh độ làm yếu chỉ. Cũng như những
bậc Cao đức khác, biết trước ngày giờ trở về cõi Phật,
Ngài khuyên chúng đệ tử cố gắng tu trì, xả thân vì đạo
pháp, noi gương đạo bạn giữa Ngài và ba vị pháp hữu thực
hiện lục hòa đoàn kết trong Tăng giới. Vào ngày 23 tháng
8 năm Giáp Tý, tức 18 tháng 9 năm 1984, Ngài xả nhục thân
thâu thần về cõi Phật, hưởng thọ 68 tuổi đời với 46
năm hành đạo.
Cuộc
đời Ngài là một tấm gương thân giáo với hạnh nguyện
chấp tác lao động miệt mài, thể hiện phương châm : “Nhứt
nhựt bất tác, nhứt nhựt bất thực”, Ngài không nề hà
gian khổ trong mọi công tác xây dựng, trùng hưng chùa chiền.
Và
còn hơn thế, với một đức độ khả kính, Ngài tự nghiêm
khắc với bản thân bằng hạnh Đầu Đà như Tổ Ca Diếp.
Khắp nơi đều khâm phục và kính trọng một bậc cao Tăng
thẳng thắn, trung thực đầy nghị lực hiếm có như Ngài.