HÒA
THƯỢNG
THÍCH
THÁI KHÔNG
(1902
- 1983)
Hòa
thượng Thích Thái Không, thế danh là Hoàng Long Phi, sinh ngày
07-7-1902 (Nhâm Dần) tại xã An Nhơn, huyện Thạnh Phú, tỉnh
Bến Tre. Thân phụ là cụ Hoàng Đăng Khoa và thân mẫu là
cụ Khống Thị Mai. Ngài là con thứ năm trong gia đình có sáu
anh em.
Xuất
thân từ một gia đình nông dân nghèo, có truyền thống tin
đạo. Năm 1917 (Đinh Tỵ), Ngài xuất gia đầu Phật nơi Tổ
Khánh Hòa tại chùa Tuyên Linh thuộc xã Minh Đức, huyện Mỏ
Cày, tỉnh Bến Tre. Tại ngôi chùa này, Ngài đã cần mẫn
miệt mài tu học, rồi được lần lượt thọ Sa Di và Cụ
Túc giới.
Năm
1930, phong trào chấn hưng Phật giáo ở miền Nam phát khởi
từ Hòa thượng Khánh Hòa, Bổn sư của Ngài. Vì thế Ngài
được tiếp xúc thường xuyên với Sư Thiện Chiếu, cùng
nhau hợp tác với Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học. Ngài
lấy bút hiệu bằng chính pháp danh của mình, để tham gia
viết bài cho tờ báo Từ Bi Âm, góp phần chuyển tải những
giá trị tinh hoa Phật học cũng như lịch sử Phật giáo nước
nhà, un đúc thêm niềm tin yêu Phật pháp và khêu gợi lòng
yêu nước, tự tôn dân tộc trong mọi tầng lớp độc giả.
Nhờ đó, Ngài được xem như một sứ giả Như Lai hoằng truyền
chánh pháp một cách rất đắc lực trong khoảng thời gian
và hoàn cảnh mà Phật giáo hầu như bị đẩy lùi vào làng
quê cô tịch.
Khi
các hoạt động của Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học tạm
lắng dịu bởi những khó khăn khách quan, Ngài trở về với
Hội Phật Học Lưỡng Xuyên, tiếp tục cống hiến tài sức
làm lợi ích cho sự nghiệp chánh pháp, phụ lực với Tổ
Khánh Hòa, Huệ Quang, Khánh Anh và cư sĩ Trần Quỳnh là chủ
bút tạp chí Duy Tâm để đào tạo Tăng tài cho Phật giáo
miền Nam.
Năm
1944, Ngài trở về trú xứ chùa Tuyên Linh thuộc xã Minh Đức,
huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Nơi đây, vì giúp đỡ che giấu
nhiều chiến sĩ cách mạng, Ngài bị giặc Pháp bắt điều
tra, đánh đập và giam cầm sáu tháng. Nhờ Tổ Khánh Hòa lãnh
ra cho về chùa Viên Minh ở một thời gian. Sau đó, vì e rằng
Ngài tiếp tục hoạt động móc nối với các chiến sĩ Cách
mạng, thực dân Pháp không còn cách nào khác hơn là quản
thúc Ngài tại chùa Viên Giác, thị xã Bến Tre, hòng cách ly
với quần chúng Phật tử và dập tắt lòng yêu nước nơi
Ngài. Nhưng Ngài vẫn giữ lòng kiên định với dân tộc và
đạo pháp.
Cuối
năm 1941, do chiến tranh giữa thực dân Pháp với các lực lượng
kháng chiến, Hội Lưỡng Xuyên Phật Học không thể tiếp
tục hoạt động vì thiếu nguồn tài trợ. Ngài chọn con đường
kháng chiến chống Pháp, theo Cách mạng ra chiến khu. Năm 1945,
Ngài được bầu làm Trưởng ban Chấp hành Hội Phật Giáo
Cứu Quốc tỉnh Bến Tre, và là thành viên Mặt Trận Việt
Minh tại quận Giồng Miếu.
Từ
năm 1947 đến năm 1949, Ngài còn là Trưởng Ban chia cơm xẻ
áo cho Vệ Quốc Đoàn tỉnh Bến Tre.
Năm
1951, Ngài được điều về công tác tại xã Long Hòa kết
hợp với nhiệm vụ xây dựng lại từ đầu công việc hoằng
hóa.
Năm
1960, tại Bến Tre phát động cuộc Cách mạng Đồng Khởi,
Ngài được đề cử giữ chức Ủy viên Mặt trận Dân tộc
Giải phóng miền Nam Việt Nam tỉnh Bến Tre, kiêm chủ tịch
Mặt trận Dân tộc Giải phóng huyện Thạnh Phú.
Năm
1969, Ngài lúc này trú xứ tại xã An Nhơn, huyện Thạnh Phú,
được hội đồng Lưỡng Viện Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam Thống Nhất đề cử trụ trì chùa Lưỡng Xuyên-Trà Vinh
ngày 11/10/1970 và được suy cử làm Trưởng ban Giáo Dục Tăng
Ni và Giám Luật.
Từ
đó cho đến năm 1975, với danh nghĩa Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam Thống Nhất, Ngài hoạt động công khai và giữ liên lạc
thường xuyên với Cách mạng, nhất là với các cán bộ Tôn
giáo kiều vận Trung Nam bộ.
Năm
1975, sau khi đất nước thống nhất, Ngài được cử vào Ủy
Ban Mặt Trận Tổ Quốc thị xã Trà Vinh.
Năm
1976, Ngài được bầu vào Hội Đồng Nhân Dân tỉnh Cửu Long,
nhiệm kỳ I. Và đến năm 1977, là Ủy viên Mặt Trận Tổ
Quốc tỉnh Cửu Long nhiệm kỳ I, II đồng thời là Ủy viên
Hội Đồng Nhân Dân thị xã Trà Vinh nhiệm kỳ III.
Năm
1981, Ngài là thành viên Ban Trù Bị Đại Hội Phật Giáo Thống
Nhất họp tại thủ đô Hà Nội.
Sau
khi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam được hình thành, Ngài được
suy cử làm thành viên Hội đồng Chứng minh Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam nhiệm kỳ I.
Cũng
như mọi chúng sinh chịu sự chi phối của định luật vô
thường, Ngài đã xả báo an tường sau cơn bạo bệnh vào
ngày 24 tháng giêng năm Quí Hợi (8.3.1983). Trụ thế 81 năm
và 60 năm đạo nghiệp.
Một
lòng trung kiên với dân tộc và đạo pháp, Ngài thể hiện
một cách trọn vẹn cả Đạo lẫn Đời trong sự nghiệp và
hành động, nối tiếp truyền thống đặc thù của Phật giáo
Việt Nam qua gương Trúc Lâm - Tuệ Trung Thượng Sĩ.