HÒA
THƯỢNG
ẨN
LÂM
(1898
- 1982)
Hòa
thượng tục danh là Lê Văn Tâm, sinh năm Mậu Tuất (1898) trong
một gia đình nông dân tại huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Thân phụ Ngài là cụ Lê Văn Cường, thân mẫu là cụ Đặng
Thị Dưỡng. Gia đình Ngài quy y theo Phật giáo Bắc Tông. Thuở
nhỏ Ngài đã theo gia đình thường xuyên đến các chùa để
lễ Phật tụng kinh.
Năm
18 tuổi, duyên lành đã đến, Ngài xuất gia tại chùa Khánh
Quới thuộc phái Lâm Tế (Thiền tông Trung Quốc). Sau đó Ngài
đi hành đạo ở các chùa Long Thành, Huỳnh Long rồi trở về
chùa Phi Lai nơi Ngài đã quy y từ thuở nhỏ.
Năm
30 tuổi (1920), Ngài sang Campuchia nghiên cứu kinh điển Tam Tạng
Pàli. Năm 1940, Ngài gặp Hòa thượng Thiện Luật (người Việt
Nam tu theo hệ phái Nam tông, bấy giờ ở tỉnh Preyveng- Campuchia)
và được thọ giới theo Phật giáo Nam Tông. Năm 1941 Ngài
phát nguyện thực hành pháp môn Đầu Đà khất thực và độc
cư trong rừng.
Năm
1946, Ngài thọ giới Tỳ kheo với Ngài Dhammavansa Guna Thera.
Vì cảm kích nếp độc cư thiền định trong rừng nên Thầy
tế độ đã ban pháp danh cho Ngài là Ẩn Lâm (Arannavasi). Ngài
luôn tâm niệm người tu phải sống độc cư thiền định,
rừng núi là môi trường yên tĩnh sẽ giúp cho tâm được
thanh tịnh. Đồng thời Ngài gìn giữ giới hạnh trang nghiêm
trong sạch, lấy giới định tuệ làm phương châm tu tập.
Ngài có đời sống tri túc, thiểu dục của bậc Sa môn chân
chính. Dù ở đâu Ngài cũng trì bình khất thực hàng ngày.
Năm
1954, từ Campuchia về Sài Gòn, Ngài tu tập tại các chùa Kỳ
Viên, Giác Quang, Bửu Quang.
Năm
1957, Giáo Hội bổ nhiệm Ngài về trụ trì chùa Tăng Quang
(Huế).
Năm
1959, Ngài theo quyết định của Giáo Hội về điều hành Phật
sự tại chùa Tam Bảo (Đà Nẳng).
Năm
1961, Ngài lại về trụ trì chùa Thanh Vân, Tây Ninh.
Năm
1962, Giáo Hội điều động Ngài về trụ trì chùa Phước
Hải, Tân Hiệp, Tiền Giang.
Năm
1975, Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam điều Ngài về
trụ trì chùa Kỳ Viên- Bàn Cờ, Sài Gòn.
Trên
bước đường hoằng dương chánh pháp, đâu đâu cũng có dấu
chân của Ngài, từ miền Nam ra miền Trung, từ miền Trung xuống
miền Tây.
Ngài
là một trong những vị Giáo phẩm cao cấp của Phật giáo
Nam Tông được Tăng ni Phật tử hệ phái tôn kính ngưỡng
mộ. Năm 1965, Ngài được tín nhiệm suy cử vào chức Phó
Tăng Thống Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam. Năm 1976,
Ngài được chư Tăng suy cử Ngài vào chức vụ Tăng Thống
GHTGNTVN. Trong nhiệm kỳ 1979 - 1982 Ngài làm Cố Vấn GHTGNTVN.
Năm
1981, khi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam được thành lập, Ngài
được Đại hội suy cử vào chức vụ Phó Pháp chủ Hội
đồng Chứng minh.
Tháng
10/1982 sức khỏe của Ngài bắt đầu suy yếu. Mặc dù bệnh
duyên như vậy, nhưng Ngài vẫn vô cùng sáng suốt khi Tăng
chúng Phật tử đến thăm, Ngài thường nhắc nhở việc tu
hành. Hình ảnh một vị Hòa thượng cao Tăng luôn luôn chánh
niệm, tỉnh giác trước giờ phút viên tịch đã tác động
vào niềm tin của hàng Phật tử xuất gia cũng như tại gia
cư sĩ rất nhiều.
Vào
lúc 10 giờ 30 phút sáng 20/12/1982 tức 6/11 năm Nhâm Tuất, Ngài
đã an nhiên thị tịch. Một đại thọ đã không còn, một
thuyền từ đã tách bến, để lại niềm thương tiếc vô
bờ nơi các hàng môn đệ hậu sanh.