HÒA
THƯỢNG
THÍCH
GIÁC HẠNH
(1880
- 1981)
Hòa
thượng họ Nguyễn thế danh là Đức Cử, đạo hiệu là Thích
Giác Hạnh, sinh ngày 13 tháng 6 năm Canh Thìn (1880- P.L. 2423)
tại làng Ái Tử, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Xuất
thân trong một gia đình trung nông, thân phụ là cụ ông Nguyễn
Đức Uẩn, thân mẫu là cụ bà Lê Thị Lộc. Anh em Ngài có
chín người gồm bảy trai và hai gái và chính Ngài đóng vai
trưởng tử khi người anh cả mất sớm.
Ngài
sinh trưởng trong một gia đình chịu ảnh hưởng Tam giáo.
Thiếu thời, Ngài theo học Nho văn. Khác với mọi Nho sinh,
Ngài luôn ưu tư về cuộc sống xuất tục. Đã nhiều lần
Ngài trình bày với thân sinh về bản hoài xuất gia học Phật
của mình.
Cho
đến năm 17 tuổi (1897), Ngài mới được xuất gia tại Tổ
đình Từ Hiếu (Huế). Sau 2 năm tu học với ý chí kiên định,
tính tình hoan hỷ và nhẫn nại, trong tuần lễ Phật Đản
08-4 năm Kỷ Hợi (1899), Ngài thọ giới Sa Di với Ngài Huệ
Nhật và được pháp danh là Tâm Cảnh và pháp tự là Thiện
Quyên.
Ngày
08 tháng 3 năm Canh Tuất (1909), Ngài thọ Cụ Túc giới tại
Đại giới đàn Phước Lâm - Quảng Nam do Hòa thượng Vĩnh
Gia làm Hòa thượng Đường đầu. Với chí nguyện tham học
cầu ngộ chân lý giải thoát, nên Ngài tìm đến học đạo
tại chùa Tây Thiên. Trải qua một thời gian dài tu học nghiên
cứu, Ngài tinh thông kinh, luật, luận và nhất là phần giới
luật được Ngài nghiêm trì cẩn mật. Với tuệ căn mẫn
tiệp, sở học uyên thâm, nên tên tuổi Ngài không những được
biết đến trong chốn thiền môn mà còn lan truyền ra ngoài
hàng tín hữu nữa. Từ năm 1915, Ngài đã sớm thành bậc Pháp
khí của Phật đạo. Lúc bấy giờ tại kinh thành Huế, ông
bà Hiệp Tá Đại Học Sĩ Nguyễn Đình Hòe có lập một ngôi
am nhỏ hiệu Phổ Phúc nằm trên đồi Bình An (Nam Giao-Huế)
mong muốn mời Ngài làm tọa chủ. Sau nhiều lần ông bà đến
chùa Tây Thiên cung thỉnh, Ngài hoan hỷ nhận làm trú trì Phổ
Phúc Am vào năm Ất Mão (1915) lúc Ngài được 36 tuổi. Về
đây, thấy cách sinh hoạt ở Phổ Phúc Am mang nhiều sắc dị
đoan mê tín không phù hợp với thanh quy thiền môn, Ngài quyết
tâm chấn chỉnh. Sau thời gian dài, Ngài mới tạo được nếp
sống thanh tịnh của chốn thiền môn.
Nhờ
ý chí tiến tu và công hạnh hoằng hóa Phật đạo, Ngài đã
đắc pháp với Hòa thượng Tâm Tịnh, được ban Đạo hiệu
là Giác Hạnh, vào ngày 14 tháng giêng năm Bính Dần (1926),
kế thừa đời thứ 43 dòng Lâm Tế Thiền Tông. Cùng năm đó,
Ngài trùng tu chánh điện và đổi Am Phổ Phúc thành chùa Vạn
Phước (Huế).
Năm
1932, hội An Nam Phật Học ra đời, Ngài được cung thỉnh
làm chứng minh Đạo sư của hội.
Năm
1933, để tiếp dẫn hậu lai báo Phật ân đức, Ngài đã dành
những ngôi nhà tả hữu của chùa (Vạn Phước) làm cơ sở
vật chất cho trường tiểu học Phật giáo để Tăng Ni có
nơi tham học, do Pháp sư Mật Khế sáng lập và chủ giảng.
Năm
Nhâm Ngọ (1941), Ngài được cung thỉnh làm Yết Ma Hòa thượng
tại Đại giới đàn chùa Hưng Khánh tỉnh Bình Định do Ngài
Chí Bảo làm Đường đầu Hòa thượng.
Ngài
rất quan tâm về việc hoằng hóa độ sinh, nên Ngài đã từng
cố vấn đạo hạnh cho hai tổ chức Phật giáo đương thời
là Giáo Hội Tăng Già Trung Việt và Hội An Nam Phật Học,
Ngài cũng đã chung sức cùng Chư tôn Giáo phẩm Tăng Ni hằng
quan tâm đến các lãnh vực giáo dục, xã hội và hóa đạo
bằng những phương thức nghi lễ của thiền môn. Ngài tự
nguyện đứng vào trong ban Kinh tài để vận động tài chánh
cho báo Viên Âm. Tờ báo này được duy trì mãi đến ngày
báo Liên Hoa ra đời, nhờ sự đóng góp một phần của Ngài.
Là
người dốc lòng phụng sự đạo pháp và cũng rất hiếu hạnh,
Ngài không quên nơi chôn nhau cắt rốn, nên đã trở về quê
hương năm Mậu Tuất (1958). Cùng với chư vị Trưởng lão
ở làng Ái Tử, Ngài trùng tu chùa chiền, tạo lập trụ sở
để tỏ lòng người đạo tử nhớ nghĩa sanh thành.
Năm
1963, Ngài tham gia công cuộc vận động, đòi thực thi 05 nguyện
vọng của Phật Giáo Việt Nam.
Đến
năm Ất Tỵ (1965), Ngài thấy tuổi tác đã cao không thể đảm
đương Phật sự, nên Ngài trao chức trú trì cho kế pháp tử
trưởng là Hòa thượng Thích Tâm Hướng. Cùng năm này, Ngài
được mời làm Tôn chứng A Xà Lê các giới đàn Từ Hiếu,
Báo Quốc và Thiền Tôn - Huế.
Năm
1967, Ngài vào miền Nam (Sài Gòn) tiếp nhận chùa Tuệ Quang.
Năm 1970, Ngài cho xây lại chùa này, và năm 1971 Ngài đã chú
thành một đại hồng chung, sau đó đổi hiệu chùa là Vạn
Phước vào năm 1973 (Ở số 55 đường Tuệ Tỉnh, quận 11,
Sài Gòn).
Năm
1973, Ngài được Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
cung thỉnh làm thành viên Hội Đồng Trưởng Lão Viện Tăng
Thống. Cũng trong khoảng thời gian này, Ngài chỉ đạo cho
Hòa thượng Tâm Hướng chú đại hồng chung và trùng tu chùa
Tịnh Độ nằm phía Tây Bắc cạnh chùa Vạn Phước, đường
Lam Sơn- Huế.
Từ
đấy, Ngài không quản ngại mọi khó khăn có khi hành đạo
ở miền Trung, lúc du hóa tận phương Nam. Nhiệm vụ của một
trưởng tử Như Lai trong đời Ngài đã viên thành. Thân ngũ
uẩn giả hợp ấy đã đến hồi qui tịch, Ngài đã an nhiên
mãn hiện vào giờ Tý ngày 10 tháng 7 năm Tân Dậu (nhằm ngày
09/8/1981), trường thọ 102 năm, được 72 hạ lạp. Nhà bia
và bảo tháp của Ngài được tôn trí tại khuôn viên chùa
Vạn Phước, đường Lam Sơn-Huế.
Cuộc
đời hành hóa của Ngài thể hiện phương châm : “Lợi sanh
vi sự nghiệp, hoằng hóa thị gia vụ” của chư Tổ mà Ngài
đã tâm đắc và thực hành suốt tám mươi lăm năm xuất trần
vi thượng sĩ vậy.