HÒA
THƯỢNG
THÍCH
ĐỨC NHUẬN
(1897
- 1993)
Hòa
thượng thế danh là Phạm Đức Hạp, pháp hiệu Thanh Thiện,
pháp danh Đức Nhuận, sinh năm Đinh Dậu, triều Thành Thái
năm thứ 9 (1897), tại Quần Phương, xã Hải Phương; huyện
Hải Hậu, tỉnh Nam Định (nay là tỉnh Nam Hà). Thân phụ là
cụ ông Phạm Công Toán, hiệu Thành Phủ, thân mẫu là cụ
bà Lê Thị Vụ. Ngài là con thứ 6 trong một gia đình có 8
anh chị em.
Sinh
trưởng trong một gia đình nề nếp Nho phong, lên 7 tuổi Ngài
đã được cho đi học chữ Hán. Thân phụ Ngài vốn là một
vị lương y Đông dược nổi tiếng trong vùng, được Sư tổ
chùa Đồng Đắc ở tỉnh Ninh Bình mời sang để bào chế
thuốc phong cứu giúp dân làng. Do được theo hầu thân phụ,
dần dần Ngài mến mộ cảnh yên tĩnh và không khí thoát tục
của chốn thiền môn.
Năm
Nhâm Tý (1912) khi Ngài tròn 15 tuổi, Ngài nhận chân được
cuộc đời là vô thường, thân người là giả tạm, nên Ngài
xin phép song thân xuất gia đầu Phật. Ngài sơ tâm cầu pháp
với Sư Tổ Thích Thanh Nghĩa thuộc dòng thiền Tào Động chùa
Quảng Bá, Hà Nội, trú trì chùa Đồng Đắc xã Đồng Hướng,
huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
Sau
khi thế phát quy y, Ngài được nghiệp sư gửi tới chùa Thanh
Nộn, huyện Kim Bảng, tỉnh Nam Hà cầu học với Sư Tổ Thích
Thanh Ninh. Với đức hạnh khiêm cung, siêng năng, hiếu học,
Ngài luôn được Sư Tổ thương yêu và kỳ vọng sau này Ngài
là pháp khí của tùng lâm.
Năm
Đinh Tỵ (1917) Ngài được 20 tuổi, được Tôn sư cho thọ
giới Cụ Túc tại giới đàn chùa Già Lê Tự làng Phúc Nhạc,
tỉnh Ninh Bình. Giới Đàn này được các bậc Cao tăng thạc
đức giữ các chức vụ quan trọng như : Sư tổ Thích Thanh
Khiết làm Hòa thượng Đàn đầu, Sư tổ Thích Trung Định
làm Yết Ma A Xà Lê, Sư tổ Thích Thanh Phúc làm Giáo Thọ,
Sư tổ Thích Khang Thượng và Sư tổ Thích Thanh Nghĩa làm Tôn
chứng. Từ đây Ngài thực sự được dự vào hàng Tăng Bảo
với trọng trách “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa quần
sinh”.
Sau
khi đắc pháp, Ngài tiếp tục con đường tu học, tìm đến
tham vấn với chư Tổ danh tiếng khắp nơi, như chốn Tổ đình
Đào Xuyên ở huyện Gia Lâm do Tổ Giám Thông Mệnh truyền
dạy, chốn Tổ Bằng ở huyện Thường Tín tỉnh Hà Đông
(nay là Hà Tây) và chốn Tổ Sở ở huyện Hoàn Long (nay là
quận Đống Đa) Hà Nội do Sư Tổ Phan Trung Thứ thuyết pháp....
và còn nhiều nơi khác nữa.
Trải
qua bao năm tháng chuyên tâm tu học, tinh tấn trau dồi đạo
hạnh, Ngài đã trở thành một bậc tôn đức không những
uyên thâm Phật học, mà còn quán thông cả Khổng học, Lão
học, đạo hạnh sáng ngời đáng làm tiêu đích cho hàng Tăng
Ni hậu tấn, Phật tử sơ cơ ngưỡng mộ, quy tâm.
Trong
thời gian tu học ở Tổ đình Bằng Sở, nhận thức của Ngài
về chánh đạo đã nhập sâu, Ngài nhận thấy thực trạng
mê tín dị đoan có tính truyền thống là một trở ngại rất
lớn cho người Phật tử trên con đường tu học. Nên Ngài
đã hăng hái và tích cực khởi xướng việc bài trừ. Ban
đầu Ngài đã phải đối phó với tư tưởng dị đồng của
chính những bạn đồng môn, nhất là của một số Phật tử
có dính dáng ít nhiều với các đền, các phủ. Tuy việc làm
của Ngài lúc đó chưa đạt thắng lợi, nhưng ít ra cũng gợi
cho mọi người khái niệm so sánh, phân biệt giữa chánh tín
và mê tín. Tổ Bằng Sở sau này đã hết lời khen ngợi Ngài
như một viên dũng tướng, khi mà trình độ cũng như điều
kiện phát triển Phật giáo nước nhà đã được nâng cao.
Năm
Kỷ Mão (1939), nhằm thực hành hạnh nguyện từ bi, Ngài đã
phát tâm thọ giới Bồ Tát do Sư tổ Thích Doãn Hài, viện
chủ chùa Tế Xuyên ở tỉnh Hà Nam chứng đàn.
Năm
Canh Thìn (1940), Ngài trở lại chùa Đồng Đắc xưa tiếp tục
tu học. Tại đây, sau khi nghiệp sư viên tịch, Ngài được
cử thừa kế làm trú trì. Phật sự đầu tiên được đặt
ra trong tâm trí Ngài là: đào tạo Tăng tài, tổ chức Giáo
Hội. Ngài liền lập hai trường Phật Học : một ở chùa
Đồng Đắc và một ở chùa Kỳ Lân thôn Đại Hữu, xã Văn
Bồng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
Ngài
luôn được chư Tăng Ni và Phật tử cung thỉnh làm chủ hạ
các trường như trường hạ chùa Phúc Nhạc, chùa Đại Hữu,
chùa Sơn Thủy (Non Nước), chùa Lê Xá (huyện Gia Viễn), chùa
Bà Đá ở Hà Nội v.v... Ngài luôn nêu cao uy mãnh Thích Hải
Côn Bằng, tiêu biểu cho ngôi vị Tòng lâm Pháp chủ.
Sau
năm Ất Dậu (1945), vào những năm đầu của cuộc kháng chiến
chống Pháp, Tổ đình Đồng Đắc do Ngài trú trì là cơ sở
nuôi giấu cách mạng. Ngài còn vận động Tăng tín đồ khắp
nơi, nhất là vùng Hà Nam Ninh ủng hộ và tham gia kháng chiến,
đáp lời kêu gọi của cách mạng. Bấy giờ vì chiến tranh
lan tràn, nhu cầu nhân tài vật lực cho kháng chiến rất cao:
Tất cả cho kháng chiến. Tất cả cho mặt trận. Do đó các
Phật học đường đều ngưng hoạt động. Các chùa thu hẹp
sinh hoạt, Tăng Ni đều phải tạm thời rời bỏ cuộc sống
tu hành, lên đường tham gia phong trào Phật giáo cứu quốc.
Khoảng
năm Canh Dần (1950), với đức độ ngời sáng, giới luật
tinh nghiêm của Ngài, Hội Phật học tỉnh Ninh Bình cung thỉnh
Ngài giữ chức Giám luật cho hội để giữ vững kỷ cương
cho hàng Tăng Ni, Phật tử trên con đường tiến tu Tam vô lậu
học.
Năm
Nhâm Thìn (1952), quê hương bản sở của Ngài bị quân đội
viễn chinh Pháp và bọn tay sai khủng bố ác liệt. Một số
tín đồ Phật giáo bị gò ép bỏ đạo. Chùa chiền bị phong
tỏa hoặc đập phá. Tinh thần Phật tử bị khủng hoảng
trầm trọng. Đứng trước thảm họa mất nước và nguy cơ
mất đạo, với cương vị là người đứng đầu hàng cao
Tăng trong vùng, sứ giả của Như Lai, Ngài đã cương quyết
bảo vệ tôn giáo và tín ngưỡng của quần chúng, kêu gọi
mọi người hãy sát cánh bên Ngài. Kẻ thù đã dùng mọi thủ
đoạn mua chuộc, hăm dọa tù đày hòng uy hiếp tinh thần Ngài.
Nhưng Ngài vẫn an nhiên, hiên ngang trước mọi sự đe dọa.
Cuối cùng, trước nguy cơ bị ám hại, Ngài đành phải thuận
theo lời thỉnh cầu của Tăng tín đồ, tạm lánh lên Hà Nội
một thời gian.
Năm
Giáp Ngọ (1954), hiệp định Genève được ký kết, chấm dứt
chiến tranh, lập lại hòa bình. Trên miền Bắc sạch bóng
xâm lược, Ngài mới cùng các đệ tử trở lại chùa xua,
gầy dựng lại tất cả để tiếp tục tu hành, hoằng dương
Chánh pháp.
Năm
Ất Mùi (1955), Hòa thượng Tuệ Tạng, Thượng thủ Giáo hội
Tăng già Việt Nam và Hòa thượng Mật Ứng, Pháp chủ Phật
giáo Bắc Việt, hiệp cùng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vào
tận chùa Đồng Đắc, mời Ngài trở lên chùa Quán Sứ - Hà
Nội nhận chức Phó Hội trưởng Hội Phật Giáo Việt Nam.
Trong thời gian này, Ngài được thỉnh về trú trì chùa Tàu
(Phổ Giác tự) ở quận Đống Đa, Hà Nội. Từ ngôi chùa
này, Ngài thường xuyên sang làm việc tại trụ sở trung ương
của Hội chùa Quán Sứ. Về sau do nhu cầu của Giáo Hội,
Ngài ở lại chùa Quán Sứ, được ít lâu sau Ngài lãnh nhiệm
vụ trú trì chùa Quán Sứ. Năm Bính Thân (1956), Ngài được
bầu làm Phó ban Đại diện Phật giáo Thủ đô.
Năm
Đinh Dậu (1957), Ngài là một thành viên trong Phái đoàn Đại
biểu Phật giáo Việt Nam đến yết kiến Chủ tịch nước
Hồ Chí Minh và Phó Chủ tịch Tôn Đức Thắng tại Phủ Chủ
tịch. Cùng năm này, Ngài được bầu làm Trưởng Ban Đại
diện Phật giáo Thủ đô.
Tháng
3 năm 1958, Hội Phật Giáo Thống Nhất Việt Nam (ở miền Bắc
) được thành lập. Hòa thượng Thích Trí Độ được bầu
làm Hội trưởng, Ngài được bầu làm Phó Hội trưởng. Ngài
đảm nhiệm chức vụ này liên tục qua bốn kỳ Đại hội
từ năm 1979, Ngài làm quyền Hội trưởng cho đến năm 1981,
sau khi Hòa thượng Trí Độ viên tịch.
Năm
1969, Ngài về trú trì chùa Quảng Bá (Hoàng Ân tự) xã Quảng
An, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Cũng trong năm này, Hội Phật
Giáo Thống Nhất Việt Nam mở trường Tu học Phật pháp Trung
ương tại chùa này và thỉnh Ngài làm hiệu trưởng. Đây
là Phật học đường đầu tiên từ sau ngày miền Bắc được
giải phóng. Ngài trú trì và giáo hóa Tăng ni, Phật tử ở
chùa Quảng Bá hơn 20 năm, sau đó về chùa Hòe Nhai.
Để
có nơi an táng sắc thân tứ đại của Tăng Ni toàn thành phố
Hà Nội, năm 1980 Ngài đứng ra xin phép Nhà nước thành lập
nghĩa trang tại chùa Huỳnh Cung, xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì,
ngoại thành Hà Nội. Cũng trong năm này, Ngài nhận lãnh Tổ
đình Hồng Phúc (Hòe Nhai), chốn Tổ của thiền phái Tào Động.
Năm 1986, Ngài chính thức về đây trú trì cho đến khi viên
tịch.
Năm
1980, trong bối cảnh nước nhà hoàn toàn độc lập và thống
nhất, Tăng Ni, Phật tử cả nước mong muốn thực hiện ý
nguyện bao đời của các bậc tiền bối là thống nhất, hòa
hợp Phật giáo Việt Nam thành một khối. Ban vận động thống
nhất Phật giáo Việt Nam ra đời trong thời điểm này và
đã cung thỉnh Ngài làm Chứng minh. Cũng trong năm này Ngài
vào lưu trú tại Tổ đình Vĩnh Nghiêm (thành phố Hồ Chí
Minh) một năm để cùng với Ban Vận Động đi thăm viếng
trao đổi, bàn bạc với chư vị tôn đức lãnh đạo các giáo
phái, hệ phái, hội đoàn Phật giáo tại các tỉnh phía Nam
để thực hiện ý nguyện thống nhất Phật giáo.
Tháng
11 năm 1981, Hội nghị đại biểu thống nhất Phật giáo Việt
Nam diễn ra tại chùa Quán Sứ - Hà Nội để thành lập Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam. Toàn thể đại biểu nhất tâm cung
thỉnh Ngài đảm nhận ngôi vị Pháp Chủ. Nhưng Ngài từ chối
đến 3 lần. Cuối cùng với sự thành tâm tha thiết của Hội
nghị, Ngài nhận lãnh ngôi vị Pháp chủ với điều kiện
là Hội nghị sẽ đề đạt lên Chính Phủ ba nguyện vọng
tha thiết của Ngài. Đó là :
1.-
Cho phép mở tại 3 thành phố Hà Nội, Huế, thành phố Hồ
Chí Minh 3 trường Đại học Phật học.
2.-
Cho mỗi tự viện được nhập khẩu từ 2 đến 5 người để
chăm lo Phật sự.
3.-
Cho phép Phật tử được tự do đến chùa lễ Phật, nghe Pháp.
Từ
đó, qua hai kỳ đại hội nữa, Ngài vẫn được Tăng tín
đồ cung thỉnh ở ngôi vị Pháp Chủ.
Ngoài
Phật sự, Ngài còn tham gia các công tác từ thiện, xã hội.
Ngài được bầu vào Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
nhiều khóa. Do công lao đóng góp của Ngài cho sự nghiệp đại
đoàn kết toàn dân, Nhà nước đã tặng thưởng Ngài Huân
Chương Hồ Chí Minh và Huân Chương Độc Lập hạng nhất.
Là
một vị đại cao Tăng, cống hiến trọn đời cho lý tưởng
hoằng pháp lợi sinh, Ngài đã đóng góp nhiều công sức trong
công cuộc chấn hưng, thống nhất và hòa hợp Phật giáo,
góp phần đoàn kết và phụng sự dân tộc.
Vào
lúc 5 giờ 5 phút ngày 11 tháng 11 năm Quý Dậu (23-12-1993), hạnh
nguyện hoằng pháp lợi sinh đã viên mãn, Ngài đã an nhiên
thị tịch tại bệnh viện Hữu Nghị Việt - Xô - Hà Nội,
hưởng thọ 97 tuổi đời, 77 hạ lạp.