HÒA
THƯỢNG
THÍCH
GIÁC NHIÊN.
(1877
- 1979)
Hòa
thượng pháp danh Trừng Thủy, pháp tự Chí Thâm, pháp hiệu
Giác Nhiên, thuộc dòng Thiền Lâm Tế Thiên Thai Sơn, đời
thứ 42.
Ngài
thế danh là Võ Chí Thâm, sinh ngày 7 tháng 1 năm 1877, tại làng
Ái Tử, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là
cụ Võ Văn Xưng, thân mẫu là cụ Trần Thị Diều. Ngài xuất
thân từ một gia đình gia phong nề nếp. Năm lên 7 tuổi Ngài
theo học chữ Nho, nhưng với chí nguyện xuất trần, Ngài từ
giã quê nhà đến chùa Tây Thiên Di Đà ở Huế xin đầu sư
với Hòa thượng Tâm Tịnh.
Suốt
hai mươi ba năm tu học, dưới sự dìu dắt của Hòa thượng
Bổn sư, cộng thêm với sức mạnh của người quyết tâm
học đạo, định lực của Ngài càng tăng trưởng. Mọi đối
tượng ngoại giới đều trở thành đề tài thiền quán để
chứng nghiệm giáo lý Phật đà, nên tri kiến của Ngài mỗi
ngày mỗi sâu sắc. Năm 1910, Ngài cùng Hòa thượng Tịnh Khiết
đến chùa Phước Lâm, tỉnh Quảng Nam cầu thọ Cụ Túc giới
tại giới đàn do Tổ Vĩnh Gia làm Đàn đầu, Ngài Tâm Truyền
làm Yết Ma, Ngài Hoàng Phú làm Giáo Thọ. Sau khi đắc giới,
Ngài chuyên tâm nghiêm trì giới định tuệ, đạo tâm mỗi
ngày mỗi triển nở. Ngài ý thức sâu sắc hạnh nguyện “Thượng
cầu hạ hóa” là mục đích trọng yếu của người hành
đạo.
Năm
1932, Ngài đã cùng quí Hòa thượng Phước Huệ, Giác Tiên,
Tịnh Hạnh và hai Cư sĩ Tâm Minh-Lê Đình Thám, Trương Xướng
đứng ra thành lập hội An Nam Phật Học. Ngài đã đảm nhiệm
chức vụ Chứng minh Đạo sư và kiêm nhiệm Giám đốc Phật
học đường Tây Thiên, Huế.
Năm
1934, Ngài được cung thỉnh làm trú trì quốc tự Thánh Duyên
thuộc Túy Vân-Huế, một trong ba quốc tự lớn nhất ở Huế.
Năm
1936, Ngài được triều đình Duy Tân phong chức Tăng Cang. Cùng
năm đó, Ngài và Hòa thượng Giác Tiên chứng minh cho tạp
chí Viên Âm, đây là một phương tiện hoằng dương Phật
pháp hết sức quan trọng thời bấy giờ.
Năm
1937, Ngài được Giáo Hội và Môn phái suy cử làm trụ trì
Tổ đình Thuyền Tôn-Huế (1).
Năm
1956, Ngài được Giáo Hội Phật Giáo Trung phần cung thỉnh
vào chức vụ Viện trưởng Phật Học Viện Hải Đức-Nha
Trang. Đây là nơi đào tạo Tăng tài của Phật giáo Trung Phần.
Từ
những năm 1958 đến năm 1962, trong suốt bốn niên khóa, Ngài
đảm nhiệm chức vụ Chánh Hội Trưởng Tổng Trị Sự Hội
Phật Giáo Trung Phần. Khi đảm nhiệm chức vụ này, tuổi
Ngài đã 80 nhưng Ngài chẳng quản tuổi cao sức yếu, đích
thân kinh lý các cơ sở Phật giáo trực thuộc để thăm viếng
và chỉ đạo.
Năm
1963, vào ngày 14-4 năm Quý Mão, trước thảm họa kỳ thị
tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm, với độ tuổi
86 thân hình mảnh khảnh, nương chiếc gậy trúc Ngài dẫn
dầu đoàn tuần hành đòi tự do tín ngưỡng và bình đẳng
cho tôn giáo.
Sau
cuộc đấu tranh chống chính sách kỳ thị tôn giáo, Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời, mở ra một trang sử
mới của Đạo Phật Việt Nam. Trước tình hình và nhiệm
vụ mới, Ngài luôn luôn quan tâm đến việc phát triển và
đào tạo những nhân sự có tài, có đức để chu toàn mọi
mặt cho Đạo pháp và Dân tộc.
Với
trọng trách đó, Ngài đã nhiều lần làm Đàn Đầu Hòa thượng
truyền giới cho chúng xuất gia và tại gia nơi các Giới đàn
như Hộ Quốc tại Phật học viện Trung phần Nha Trang (chùa
Hải Đức), Giới đàn Vạn Hạnh tại chùa Từ Hiếu-Huế,
Giới đàn Vĩnh Gia tại Phật học viện Phổ Đà- Đà Nẳng...
và Ngài đã tổ chức cho hàng ngàn Phật tử tại gia thọ
Bồ Tát giới, Thập thiện, Tam quy ngũ giới trên khắp mọi
miền đất nước.
Môn
đồ đệ tử của Ngài là những vị đã và đang giữ những
chức vụ trọng yếu trong Giáo hội như Hòa thượng Thiện
Siêu, Thiện Minh, Thiện Bình...
Sau
khi Đại lão Hòa thượng Đệ nhất Tăng Thống Thích Tịnh
Khiết viên tịch, Ngài được Đại Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất kỳ V suy tôn kế vị làm Đệ nhị Tăng Thống
vào ngày 10-3-1973. Đây là chức vụ nặng nề nhất giữa bối
cảnh đất nước và đạo pháp đang có nhiều biến chuyển,
đồng thời cũng là chức vụ sau cùng của đời Ngài. Ngài
luôn lấy nỗi ưu tư thoát khổ của chúng sanh làm nỗi ưu
tư của chính mình. Vì thế với chức vụ cao cả nặng nề
ấy, Ngài đã quan tâm rất nhiều đến hoàn cảnh đất nước
và nội tình Giáo hội. Ngài chủ trương dập tắt chiến tranh,
đem lại hòa bình cho đất nước và ưu tư hàng đầu vẫn
là sự sinh hoạt của Tăng Ni, Phật tử trong cộng đồng Giáo
hội.
Sau
năm 1975, đất nước đã hòa bình thống nhất, Ngài ra lời
khuyên nhủ tứ chúng luôn luôn tăng trưởng đạo tâm, huân
tu tam học giới định tuệ, áp dụng tinh thần Bách Trượng
vào cuộc sống hằng ngày, Ngài dạy: “Tôi nay đã già rồi,
hơn 100 năm qua tôi đã sống và đã chứng kiến bao nỗi thay
đổi của đất nước thân yêu. Với hàng xuất gia, tôi thấy
không gì hơn là sống phạm hạnh, hoan hỷ, hòa hợp, giữ
gìn giới, định, tuệ để hành đạo giúp đời”. Đối
với hàng Cư sĩ, Ngài khuyến dụ: “Tôi cũng mong hàng Phật
tử tại gia hãy tu tâm dưỡng đức, biết thương yêu mọi
người, làm tròn trách nhiệm của mình đối với đạo, đối
với đời để cùng nhau phát huy tinh thần từ bi, trí tuệ
của đạo Phật và xây dựng một nước Việt Nam vinh quang
giàu mạnh”.
Trong
sự nghiệp tu hành, Ngài luôn luôn kêu gọi Tăng sĩ nên chú
trọng cuộc sống nội tâm hơn là nghiêng về hình thức. Đạo
Phật thật sự tồn tại không chỉ ở hình thức chùa tháp,
lễ nghi, kinh điển, mặc dầu kinh điển là kim chỉ nam dẫn
đến đạo quả Vô thượng bồ đề. Mà sự tồn tại đích
thực của đạo là sự thể hiện đạo pháp qua nếp sống
gương mẫu của các bậc Tăng già nghiêm trì giới luật và
tận lực phục vụ để chánh pháp mãi mãi tồn tại ở thế
gian, đem lại nhiều lợi ích cho chúng sanh.
Đầu
xuân 1979, ngày 4 tháng Giêng, năm Kỷ Mùi, Ngài tiếp Hòa thượng
Chánh thư ký Viện Tăng Thống và Ban Đại Diện Giáo hội
Phật giáo Thừa Thiên đến chúc thọ đầu năm. Sau lễ chúc
thọ, Ngài ân cần đáp lễ với những lời đầu năm vô cùng
xúc động: “Tôi nay tuổi đã già, sức khỏe của tôi kém
nhiều, chưa biết chừng sự chết sẽ đến nay mai. Nhân dịp
đầu năm, Hòa thượng cùng quí Thầy đến thăm tôi, tôi xin
cám ơn và cầu Phật gia hộ Hòa thượng cùng quí Thầy nhiều
sức khỏe cố gắng kiên nhẫn trước mọi hoàn cảnh để
phục vụ Giáo hội, dìu dắt Tăng Ni, tín đồ tu niệm. Tôi
thật không còn có gì vui sướng hơn”. Đây là di huấn tối
hậu trước khi Ngài vào cõi Niết Bàn tịnh lạc.
Giữa
ngày mồng 5 thân thể khiếm an, rồi Ngài xả báo thân vào
hồi 6 giờ 30 ngày 6 tháng Giêng năm Kỷ Mùi (2/2/1979) hưởng
thọ 102 tuổi đời và 69 hạ lạp.
Chú
thích :
(1)
Ngôi Tổ đình này do Ngài Thật Diệu - Liễu Quán thuộc thiền
phái Lâm Tế khai sơn vào khoảng năm thứ IV niên hiệu Vĩnh
Thịnh (1708) và theo phả hệ Thiền Chi của Ngài Liễu Quán
thì Ngài thuộc đời thứ VIII.