HÒA
THƯỢNG
THÍCH
TRÍ HẢI
(1906
- 1979)
Hòa
thượng pháp danh Thích Thanh Thao, hiệu Trí Hải, thế danh Đoàn
Thanh Tảo, sinh năm Bính Ngọ 1906, tại làng Quần Phương Trung,
huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Xuất thân từ một gia đình
có ba anh em, sống bằng nghề nông và dệt vải, song thân Ngài
là cụ ông Đoàn Văn Đích tự Phúc Thực và cụ bà Nguyễn
Thị Tuất hiệu Diệu Mậu.
Ngài
mến đạo Phật và có ý định xuất gia lúc 12 tuổi. Sau năm
năm học ở chùa làng khi 17 tuổi, được song thân cho phép
và Sư cụ Thanh Dương hướng dẫn, giới thiệu, Ngài chính
thức nhập đạo dưới sự dạy dỗ trực tiếp của Tôn sư
Thích Thông Dũng, tại chùa Mai Xá, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà
Nam. Chẳng bao lâu Ngài được thọ giới Sa Di ở Tổ đình
Tế Xuyên.
Năm
19 tuổi, do yêu thích tinh thần tập thể và các mối quan hệ
trong nếp sống tu học, Ngài cùng một số tu sĩ trẻ, thành
lập Đoàn Thanh Niên Tăng, lấy tên là Lục Hòa Tịnh Lữ.
Năm
20 tuổi (1925) Ngài thọ giới Tỳ Kheo. Sau đó tiếp tục đi
học và kiết hạ trong suốt năm năm.
Năm
25 tuổi (1930), Ngài bắt đầu ra trụ trì chùa Phú Đa, xã
Yên Lập, huyện Bình Lục, tỉnh Nam Hà. Và một năm sau đó,
lại trở về trông coi chùa Mai Xá vì Tôn sư của Ngài viên
tịch.
Năm
27 tuổi, cùng với một số Tăng sĩ và Cư sĩ, Ngài đã lập
Ban Phật Học Tùng Thư để nghiên cứu, phiên dịch và ấn
hành các kinh điển với mục đích phổ biến giáo lý cho các
hàng Phật tử.
Năm
29 tuổi (1934), tự nhận thấy có trách nhiệm với Phật pháp
đương thời, cần phải chấn hưng và phát triển sâu rộng
Phật giáo ở miền Bắc, Ngài cùng một số Tăng Ni Phật tử
có uy tín, đạo tâm được toàn thể Phật tử mời đứng
ra tiếp nhận và tổ chức chùa Quán Sứ - Hà Nội làm Trụ
sở Trung ương, và chính thức thành lập Hội Bắc Kỳ Phật
Giáo làm cơ sở pháp lý cho việc phục vụ chánh pháp.
Năm
1935, để truyền bá giáo lý và tạo nhận thức đúng về
chủ trương của hội trong việc tương trợ và hệ thống
hóa các đoàn thể Tăng Ni Phật tử, Ngài cùng Hội xuất bản
tờ tuần báo “Đuốc Tuệ” và lập nhà in. Tờ Đuốc Tuệ
là tiền thân của “Diệu Âm” và “Phương Tiện” sau này.
Ngoài ra, Ngài còn chủ trương một tờ nhật báo “Tân Tiến”.
Năm
1936, Ngài đứng ra tái thiết lại toàn bộ ngôi chùa Quán
Sứ với qui mô và kiến trúc mới. Đồng thời, tổ chức
đại lễ suy tôn Đại lão Hòa thượng Vĩnh Nghiêm lên ngôi
Thiền gia Pháp chủ, và lập trường Tăng học đặt tại chùa
Bồ Đề, Gia Lâm, Hà Nội bên bờ sông Hồng. Ngoài ra, Ngài
còn tích cực vận động có được 50 mẫu ruộng tại tỉnh
Thái Bình để giải quyết vấn đề kinh tế căn bản cho các
Tăng sinh yên tâm tu học.
Năm
1937 - 1938, trên bình diện quốc tế, Ngài mở cuộc công du
sang Trung Hoa trong hai tháng để tham khảo Tam Tạng kinh điển
và tiếp xúc các vị Cao Tăng như Thái Hư Đại Sư... để
học hỏi kinh nghiệm cũng như phương pháp tổ chức chỉ đạo.
Cuối năm 1938, Ngài lại vân du sang Lào, Thái Lan, lập chi hội
Phật giáo Việt kiều Hải ngoại và đặt quan hệ Phật sự
với Phật giáo của hai nước này.
Năm
1941 - 1942, nhằm phát triển công tác giáo dục và từ thiện
xã hội, Ngài ủy thác cho cư sĩ Thiều Chửu lập trường
học Phổ Quang và nghĩa trang Tế Độ. Cả hai cơ sở này đều
tọa lạc ở ngoại ô Hà Nội. Một trường Ni học cũng được
khai giảng tại chùa Bồ Đề, bên cạnh trường Tăng học.
Sĩ số Tăng Ni sinh ngày một đông phải di chuyển đến các
Phật học trường khác như: chùa Cao Phong ở Phúc Yên do Tổ
Tuệ Tạng hướng dẫn; chùa Côn Sơn ở Hải Dương do Hòa
thượng Tố Liên giảng dạy; chùa Hương Hải ở Hải Dương
do Hòa thượng Thái Hòa đào luyện...
Năm
1943, Ngài phác thảo một chương trình kiến thiết một Đại
Tùng Lâm rộng 20 mẫu tây ở ga Thường Tín - Hà Đông, với
qui mô rộng lớn trong đó có ngôi chùa, nhà Pháp Bảo, nhà
Tổ, nhà Tăng trang nghiêm, tiện nghi, tiêu biểu cho một cơ
sở hoằng dương chính pháp. Ngoài ra còn có những cơ sở
giáo dục như trường Tiểu, Trung và Đại học, bệnh viện,
siêu thị, nhà dưỡng lão v.v... nhằm phát huy văn hóa dân
tộc. Và nơi thánh tích Phật giáo, Ngài cũng có kế hoạch
trùng tu khu danh lam Trúc Lâm Yên Tử. Các công việc đang tiến
hành thì phải đình chỉ vì năm 1945 - 1946, một nạn đói
ghê gớm lan tràn khắp miền Bắc. Thể hiện lòng từ bi, Ngài
cùng Hòa thượng Tố Liên và Cư sĩ Thiều Chửu thành lập
Tổng Hội Cứu Tế đặt tại chùa Quán Sứ - Hà Nội để
giúp đỡ những người đói khổ, dựng lên một Cô Nhi Viện
nuôi hơn 200 trẻ thất lạc, bơ vơ. Cuối năm 1946, chiến tranh
Việt - Pháp bùng nổ, các Phật sự phải đình chỉ và số
phận các cô nhi bấp bênh. Ngài phải đưa một số em về
chùa Mai Xá và dạy nghề thủ công để tự túc. Còn các em
khác thì theo cụ Thiều Chửu lên Phúc Yên sinh sống.
Năm
1950, Ngài thỉnh được Đại Tạng kinh từ Nhật Bản để
bổ sung vào Thư viện Phật giáo tại chùa Quán Sứ làm tư
liệu nghiên cứu dịch thuật cho chư Tăng Ni miền Bắc.
Năm
1951, Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam được thành lập. Sáu
tập đoàn Phật giáo suy tôn Hòa thượng Thích Tịnh Khiết
làm Hội chủ và Ngài làm đệ nhất Phó Hội chủ. Đến năm
1952, Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc được thành lập tại chùa
Quán Sứ Hà Nội nhằm thống nhất Phật giáo toàn quốc. Đại
hội đã suy cử Tổ Tuệ Tạng lên ngôi Thượng Thủ và bầu
Ngài làm Trị Sự Trưởng.
Năm
1953, với mục đích tiếp tục đào tạo Tăng tài và trao đổi
văn hóa với các nước trong tổ chức Phật giáo thế giới.
Ngài cùng quí Hòa thượng khác, dưới danh nghĩa Tổng hội
và Giáo hội đề cử một số chư Tăng sang du học ở Nhật
Bản, Tích Lan và Ấn Độ. Và cũng trong năm này, Ngài đứng
ra xây trường Trung Tiểu học Vạn Hạnh trong khuôn viên chùa
Hàm Long - Hà Nội, cùng với trường Tiểu học Khuông Việt
tại chùa Quán Sứ, cả hai đều giảng dạy theo chương trình
giáo dục phổ thông.
Năm
1954, vào thời gian đất nước tạm chia đôi, dù gặp bao khó
khăn tài chính, bao xúc động tâm lý, Ngài vẫn quyết tâm
xây hoàn tất chùa Phật Giáo Hải Phòng để tiếp tục Phật
sự và ổn định tinh thần Phật tử. Ngài đã ở lại miền
Bắc để hướng dẫn Tăng Ni Phật tử cho tới ngày thống
nhất đất nước.
Năm
1958, Hội Phật Giáo Thống Nhất Việt Nam ra đời tại miền
Bắc. Ngài cũng hòa mình tham dự nhưng không còn giữ chức
vụ gì. Nơi chùa Phật Giáo Hải Phòng, Ngài vẫn cố gắng
hướng dẫn Phật tử, sáng tác và phiên dịch nhiều tác phẩm,
gồm 30 cuốn. Ngài có công đặc biệt là đã phiên dịch và
cổ xúy thực hiện việc tụng kinh theo nghi lễ tiếng Việt
cho Tăng Ni Phật tử miền Bắc.
Hòa
thượng còn là vị trú trì Tổ đình Bồ Đề trên 30 năm.
Tại đây sau nạn thiên tai lụt lội năm 1971, Ngài đã xây
dựng lại tất cả và duy trì qua hai cuộc kháng chiến.
Năm
1979, Ngài vào thăm miền Nam, được Tăng Ni Phật tử nghênh
tiếp nồng hậu và kính mến đặc biệt. Khi trở về Bắc
được mấy hôm, Ngài lâm bệnh và thị tịch ngày 7 tháng
6 năm Kỷ Mùi, (30-6-1979) tại chùa Phật Giáo Hải Phòng. Ngài
trụ thế 74 tuổi, hoằng đạo 57 năm.
Hòa
thượng Thích Trí Hải là một trong những bậc cao Tăng của
lịch sử Phật giáo Việt Nam, Ngài sống mãi trong lòng Tăng
Ni Phật Tử Việt Nam hôm nay và mãi mãi về sau.
Danh
mục những tác phẩm của Hòa thượng còn để lại như sau:
- Nhập
Phật nghi tắc.
-
Nghi thức tụng niệm.
-
Khôn sống
-
Gia đình Giáo Dục.
-
Truyện Phật Thích Ca.
-
Phật học Ngụ Ngôn.
-
Lời vàng.
-
Kinh Thập Thiện.
-
Kinh Kiến Chính.
-
Phật học Phổ thông.
-
Phật học vấn đáp.
-
Đồng nữ La Hán.
-
Cái hại vàng mã.
-
Phật hóa tiểu thuyết.
-
Kinh lục độ tập.
-
Tâm chúng sinh.
-
Thanh gươm trí tuệ.
-
Luận quán tâm.
-
Phẩm quán tâm.
-
Khóa Hư Lục.
-
Trúc Lâm Tôn Chỉ Nguyên Thanh.
-
Nhân gian Phật giáo đại cương.
-
Nghi thức thụ Tam qui.
-
Duy Ma Cật và Viên Giác.
-
Các văn sớ.
-
Nghĩa khoa cúng chúc thực.
-
Phật giáo Triết học.
-
Hồi ký thành lập Hội Phật Giáo Việt Nam.
-
Sa di luật dịch 2 tập.
-
Phật giáo Việt Nam.