HÒA
THƯỢNG
LÂM
- EM
(1898
- 1979)
Hòa
thượng Lâm Em, sinh năm 1898 tại làng Mỹ Tú, huyện Sóc Trăng,
trong một gia đình người Khmer có truyền thống tu học Phật
giáo theo tôn chỉ của bộ phái Theravàda.
Những
khi rảnh rỗi, Ngài thường được song thân tạo điều kiện
để sớm biết rõ các nghi lễ, giờ giấc tu học của Phật
tử tại gia. Với bẩm tính thông minh và sẵn có một tấm
lòng thiết tha vì đạo, Ngài đã nhanh chóng hấp thụ được
truyền thống tu học của gia đình, và chính sự trợ duyên
gần gũi lớn lao đó đã hỗ trợ không ít cho bước đường
tu học của Ngài sau này.
Năm
Bính Thìn (1916), được sự đồng ý của cha mẹ, đồng thời
nhận thấy niềm vinh dự lớn lao của một gia đình có người
xuất gia học đạo, Ngài chính thức xuất gia (năm 18 tuổi),
thọ giới Sa Di tại chùa Bố Thảo, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc
Trăng.
Năm
Canh Thân (1920), sau thời gian chuyên cần tu học, Ngài thọ
Tỳ Kheo giới, cũng tại chùa Bố Thảo (năm 22 tuổi).
Từ
đó Ngài được cử đi tham học kinh tạng và luật tạng nơi
các chùa trong tỉnh lẫn các nơi khác. Đến đâu Ngài cũng
được các Trưởng lão quý mến, hết lòng dạy bảo. Tăng
chúng cùng thời cũng thích được gần gũi và trao đổi kết
quả học tập với Ngài, tạo nên sự đoàn kết gắn bó trong
giáo đoàn.
Ý
thức rằng bản thân cần phải nâng cao trình độ tu học,
cần có kiến thức căn bản về Phật học Nguyên Thủy từ
kinh tạng Pàli, mang ý chí tiến thủ đó, Ngài sang tận Campuchia,
gặp gỡ và cầu học nơi các Trưởng lão cao minh, đó là
năm 1938. Cùng thời gian tham cứu kinh tạng Pàli ấy, Ngài còn
học tham thiền một cách nghiêm túc, nên định lực và trí
tuệ phát triển, đạt nhiều kết quả tốt. Đặc biệt, từ
năm 1940 Ngài đã thực hành hạnh Đầu Đà ngay trong rừng
suốt tám năm. Đến giữa năm 1947 Ngài mới xả hạnh.
Cuối
năm 1948, Ngài trở về Việt Nam bắt đầu hoằng hóa, truyền
đạt kinh nghiệm tu hành cho thế hệ kế tiếp. Ngài đã kiến
tạo được trong cộng đồng Phật giáo Khmer một sắc thái
sinh động khác với thời gian trước, bắt nhịp cùng phong
trào chấn hưng Phật giáo chung của đất nước. Từ đó,
giới Phật giáo người Việt gốc Miên có cơ hội gần gũi
và gắn bó chung với Phật giáo Việt Nam.
Thể
hiện sự hòa nhập đó, Ngài lên Sài Gòn, tìm đến cộng
đồng người Việt gốc Miên sinh sống ở đây truyền đạt
tâm nguyện, được đa số ủng hộ, sẵn sàng trợ duyên cho
hoài bão của Ngài là muốn có ngay giữa đất Sài Gòn này
một ngôi chùa lễ bái theo tông phái Theravàda chính thống.
Đầu tiên, Ngài đã dựng lên một cái cốc nhỏ bên bờ rạch
Nhiêu Lộc vùng Tân Định để có nơi tu và chờ đợi những
trợ duyên.
Năm
1948, Hòa thượng Oul Srây từ Campuchia sang Sài gòn thăm họ
hàng, Ngài cùng toàn thể Phật tử cung thỉnh Hòa thượng
ở lại để trợ duyên cùng nhau xây cất ngôi chùa. Thế là
không lâu sau từ cốc nhỏ của Ngài, trên bãi đất lầy đầy
cỏ dại và ô rô bên bờ kinh Nhiêu Lộc, đã hình thành một
ngôi chùa uy nghi đồ sộ, theo truyền thống Khmer. Đó là chùa
Chăntarănsây (Candaransi, hiện nay mang số 164/235 đường Trần
Quốc Thảo - Quận 3 - thành phố Hồ chí Minh). Ngài bắt đầu
trụ trì ngôi chùa này ngay từ năm Mậu Tý (1948) sau khi vừa
hoàn thành.
Theo
đạo dụ số 10 của chính thể Ngô Đình Diệm, Phật giáo
Khmer Theravàda cũng cùng chung số phận bị ngược đãi, kỳ
thị. Do đó trong Pháp nạn 1963, Ngài đã dấn thân cùng các
vị Tôn túc lãnh đạo và hàng trăm nghìn Phật tử tham gia
đấu tranh chống đàn áp Phật giáo, đòi hỏi bình đẳng,
tự do tín ngưỡng. Nên Ngài đã bị bắt nhiều lần ngay tại
Sài Gòn.
Là
Tăng trưởng Theravàda, thành viên trong Tổng Hội Phật Giáo
Việt Nam, ngày 10.5.1963, Ngài lên tiếng ủng hộ bản tuyên
ngôn của Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam đòi hỏi chính phủ
phải thực thi năm nguyện vọng chính đáng của giới Phật
giáo. Ngày 15.5.1963, Ngài có mặt trong phái đoàn Tổng Hội
Phật Giáo Việt Nam đến dinh Gia Long để trao tận tay Ngô
Đình Diệm bản tuyên ngôn ấy.
Ngày
21.5.1963, Ngài được bầu là một trong năm vị Cố vấn của
Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo (cùng Hòa thượng Minh
Trực và các Thượng tọa Trí Quang, Pháp Tri, Thiện Minh và
Thanh Thái). Đây là một tổ chức cần thiết phải ra đời
trong cơn nguy biến của Phật giáo Việt Nam thời bấy giờ.
Ngày
30-5-1963 theo chủ trương của Ủy Ban Liên Phái, Ngài đã tuyệt
thực 48 giờ. Đó cũng là ngày đầu tiên cả Sài Gòn tuyệt
thực mang ý nghĩa tiên phong cho các cuộc đấu tranh bất bạo
động sau này. Lại cũng là ngày đầu tiên Sinh viên - Học
sinh và Thanh niên nhập cuộc đấu tranh cho sự bình đẳng
tôn giáo và hòa hợp dân tộc.
Ngày
3.6.1963 cùng chung số phận với các chùa đối tượng của
lệnh phong tỏa, chùa Chăntarănsây cũng bị chánh quyền bao
vây gắt gao, vì Ngài có chân trong Ban cố vấn Ủy ban Liên
phái Bảo vệ Phật giáo. Cũng bởi thế, sau cuộc tuyệt thực
tại chùa Xá Lợi ngày 15.7.1963 do Ủy ban đề xướng, các
Tăng sĩ người Việt gốc Miên càng bị tra hỏi và bị bố
ráp đàn áp. Ngài và tất cả Tăng chúng Việt gốc Miên đều
bị bắt nhốt bốn ngày.
Ngày
9.7.1963, Ngài lên tiếng phản đối Bộ Nội Vụ chính thể
Ngô Đình Diệm đã ký Nghị định về việc treo cờ Phật
giáo riêng cho đơn vị nào trực thuộc Tổng Hội. Đây là
hình thức chia rẽ Phật giáo lâu dài.
Ngày
11.8.1963, Ngài vân tập Tăng sĩ Theravàda thành hàng ngũ chỉnh
tề về chùa Xá Lợi tham dự lễ cầu siêu Đại Đức Nguyên
Hương tự thiêu ngày 4.8.1963.
Năm
1965, Ngài được bầu vào chức vụ Tăng trưởng Giáo Hội
Theravàda.
Năm
1970, Ngài được mời làm thành viên trong Hội Đồng Viện
Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
Sau
năm 1975, Ngài được mời tham gia vào Ủy Ban Liên Lạc Phật
Giáo Yêu Nước Thành phố Hồ Chí Minh.
Năm
1979 với tuổi già sức yếu, Ngài bệnh nhẹ và viên tịch
lúc 15 giờ 40' ngày 8.10 (Kattika) năm Kỷ Mùi, nhằm ngày chủ
nhật 28.10.1979. Ngài hưởng thọ 81 tuổi, xuất gia 63 năm.
Nhục thân Ngài được trà tỳ theo truyền thống Phật giáo
Khmer và được thờ tại chùa Chăntarănxây.