HÒA
THƯỢNG
BỬU
CHƠN
(1911
- 1979)
Hòa
thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Tông, sinh năm Tân
Hợi (1911) tại Sa Đéc - Đồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài
sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài thấm
nhuần Phật Giáo Nam Tông vốn là quốc giáo của Vương quốc
này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất
gia thuộc hệ phái Nam Tông. Sau đó Ngài vào rừng chấp trì
hạnh đầu đà (Dhutanga) suốt mười hai năm. Năm 1951 Ngài
được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài gòn để truyền
bá giáo pháp Nguyên Thủy. Năm 1952 Ngài có duyên lành sang Tích
Lan để nghiên cứu Phật học tại trường Dhammaducla Viddhyàlaya
trong thời gian hai năm. Ngài cũng đã hành hương sang Ấn Độ
để chiêm bái các thánh tích và cung thỉnh Ngọc Xá Lợi do
Giáo Hội Phật Giáo ở Tích Lan tặng đem về Việt Nam.
Năm
1954, Ngài dẫn đầu phái đoàn Phật Giáo Việt Nam tham dự
Hội nghị Kết Tập Tam Tạng Pàli lần thứ 6 tại Rangoon -
Miến Điện. Ngài là vị Giáo phẩm Phật giáo Việt Nam đã
tham gia nhiều hoạt động Phật sự quốc tế.
Vào
năm 1956, Ngài tham dự Hội nghị Phật giáo Thế giới lần
thứ 3 tại Miến Điện. Và nhân dịp này Bộ Lễ Miến Điện
đã trao tặng Ngọc Xá Lợi cho Ngài mang về Việt Nam tôn thờ.
Ngài là thành viên vận động thành lập Giáo Hội Tăng Già
Nguyên Thủy Việt Nam. Nhiệm kỳ lâm thời Ngài được cử
làm Tăng Thống Ban Chưởng Quản vào năm 1957. Trong năm này
Ngài dẫn đầu phái đoàn dự lễ kỷ niệm 2.500 năm Phật
Giáo tại Campuchia. Ngài dự Hội nghị Phật giáo lần thứ
4 tại Népal và Hội nghị Triết học tại Ấn Độ.
Năm
1958, Ngài dự Hội nghị Quốc tế về Lịch sử Tôn Giáo Thế
Giới lần thứ 9 tại Đông Kinh, Nhật Bản. Năm 1960 Ngài được
bầu làm Phó Chủ Tịch Hội Phật Giáo Thế Giới trong kỳ
Đại Hội lần thứ 5 tại Thái Lan và tham dự Hội nghị Lịch
sử Tôn giáo Thế giới lần thứ 10 tại Tây Đức. Ngài cũng
đến các nước Tây Phương: Anh, Ý, Pháp để nghiên cứu các
tổ chức Phật Giáo tại các nơi này.
Năm
1961 tại Hội nghị Phật giáo Thế giới lần thứ 6 tại Phnôm
Pênh, Campuchia, Ngài được bầu vào chức vụ Cố vấn tinh
thần tối cao và vĩnh viễn cho Hội Phật giáo Thế giới.
Năm
1962, Ngài đắc cử Tăng Thống Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy
Việt Nam. Ngài đã cùng với Hòa thượng Narada (người Tích
Lan) vận động xây dựng thắng tích Thích Ca Phật Đài tại
núi Lớn - Vũng Tàu.
Năm
1963, Ngài giữ chức Phó Chủ Tịch Ủy ban Liên phái Bảo Vệ
Phật Giáo chống chế độ nhà Ngô kỳ thị Phật Giáo. Năm
1964, Ngài dẫn đầu phái đoàn tham dự Hội nghị Phật Giáo
Thế giới lần thứ 7 tại Ấn Độ. Năm 1965 tại Tân Gia Ba,
Ngài được bầu làm Chủ Tịch Hội Phật Giáo Thế Giới
địa phương và tham dự Hội nghị thành lập Hội Tăng Già
Thế Giới tại Tích Lan.
Năm
1966, Ngài dẫn đầu phái đoàn tham dự Hội nghị Phật giáo
Thế giới lần thứ 8 tại Thái Lan. Năm 1968 Ngài tham dự Hội
nghị Lịch Sử Tôn Giáo Thế Giới thứ 12 tại Jerusalem Do
Thái. Năm 1972 Ngài đảm nhiệm chức vụ Phó Tăng Thống Giáo
Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam. Năm 1975 được cử giữ
chức Phó Chủ Tịch Ban Liên Lạc Phật Giáo Yêu Nước thành
phố Hồ Chí Minh.
Năm
1979, Ngài đảm nhận chức vụ Cố vấn Ban Chưởng Quản Giáo
Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam khóa 11. Ngài là một học
giả, biết rất nhiều ngoại ngữ như Lào, Thái Lan, Khmer,
Miến Điện, Tích Lan, Trung Quốc, Pháp, Anh, Đức, Ý, Nga và
Cổ ngữ Pàli. Riêng về Pàli là ngôn ngữ mà Ngài đã dành
rất nhiều thì giờ nghiên cứu và đã soạn thành tự điển
Pàli.
Dù
bận rộn Phật sự trong nước cũng như Phật sự quốc tế,
Ngài vẫn dành thời gian để phiên dịch và trước tác nhiều
kinh sách để hoằng dương giáo pháp, trên dưới 20 tác phẩm.
Ngày
17.9.1979, mặc dù sức khỏe suy kém, Ngài vẫn dẫn đầu phái
đoàn Phật Giáo Việt Nam sang thăm hữu nghị, tham dự lễ
Dôn Ta (lễ lớn nhất của dân tộc Campuchia) tại Campuchia
và tổ chức lễ truyền giới Tỳ Kheo cho các nhà sư Campuchia.
Ngày
19-9-1979 bệnh cũ bộc phát trầm trọng, đến 2 giờ sáng ngày
21-9-1979 (1.8 - Kỷ Mùi) Ngài an nhiên viên tịch tại Phnôm -
Pênh, hưởng thọ 69 tuổi đời, với 30 tuổi đạo. Trước
giờ phút lâm chung, trên giường bệnh Hòa thượng vẫn còn
tỉnh táo nghe các thành viên trong đoàn báo cáo buổi lễ Dôn
Ta và lễ Truyền giới viên mãn cho 7 vị sư Campuchia, mở đầu
kỷ nguyên phục hồi nền Phật Giáo xứ Chùa Tháp.
Ngài
là một tấm gương sáng về phương diện hoằng pháp lợi
sanh. Công hạnh Ngài còn tỏa rộng ra thế giới, và còn lưu
lại trong mỗi bước hành trì giới pháp độ sanh của những
người có lòng vị tha và chí tìm cầu giải thoát.
Các
tác phẩm của Ngài còn để lại trong sự nghiệp sáng tác
phiên dịch:
- Cư
Sĩ Thực Hành.
-
Tứ Thanh Tịnh Giới.
-
Pháp Xa.
-
Chuyển Pháp Luân.
-
Bồ Tát Khổ Hạnh.
-
Hàng rào giai cấp
-
Niệm Thân.
-
Chánh Giác Tông.
-
Tội Ngũ trần.
-
Truyện Ngạ Quỹ.
-
Quả Báo Sa Môn.
-
Nhân Quả Liên Quan.
-
Kho tàng Pháp Bảo.
-
Pháp Đầu Đà.
-
Tà Kiến Chánh Kiến.
-
Hội Nghị Quốc Tế.
-
Văn Phạm Pàli.
-
Định luật thiên nhiên của vũ trụ.
-
Tự Điển Pàli.