HÒA
THƯỢNG
THÍCH
THIỆN MINH
(1922
- 1978)
Hòa
thượng Thích Thiện Minh, thế danh Đỗ Xuân Hàng, pháp danh
Thiện Minh, pháp hiệu Thích Trí Nghiễm. Sinh năm Nhâm Tuất
(1922) tại làng Bích Khê, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Gia
đình Ngài thuộc tầng lớp thức giả, thân phụ là ông Đỗ
Xuân Quang, có làm việc làng, được phong Cửu Phẩm Văn Giai.
Thân mẫu là bà Hoàng Thị Nhơn. Ngài là người thứ năm trong
tám anh chị em (1).
Năm
Tân Mùi (1931), khi mới 10 tuổi, Ngài được song thân cho phép
xuất gia tu học. Khi ấy phong trào chấn hưng Phật giáo đang
được phát động rầm rộ tại Trung kỳ và Hội An Nam Phật
Học được thành lập tại Huế năm 1932. Do đó, Ngài thừa
hưởng được những thuận duyên để vun bồi cho sự tu học
ngay từ bước đầu. Năm Giáp Tuất (1934) Hòa thượng Giác
Tiên cùng đệ tử thân tín của Hòa thượng là Ngài Mật
Khế đứng ra tổ chức, thành lập trường An Nam Phật Học
tại chùa Trúc Lâm, thu nhận chỉ 50 học Tăng, được tuyển
chọn rất kỹ từ nhiều nơi, trong đó có Ngài.
Vốn
có tư chất thông minh lại tinh tấn tu học, suốt thời gian
theo học tại trường An Nam Phật Học, từ bậc Tiểu học,
lên Cao đẳng và Đại học Phật giáo, Ngài đều gặt hái
được kết quả tốt đẹp. Nơi đây, tài hùng biện thu hút
người nghe được bộc lộ mỗi khi Ngài đăng đàn diễn thuyết,
nên Ngài được chư Tôn đức giám quản luôn khen ngợi.
Năm
Quý Mùi (1943), Ngài tốt nghiệp Đại học Phật giáo chuẩn
bị nhận lãnh trọng trách hoằng pháp lợi sanh, thì tình hình
trong nước có biến động dồn dập. Đảo chính Nhật (9.3.1945)
rồi Cách mạng Tháng tám và Nam bộ Kháng chiến (23.9.1945)...
Tất cả các hoạt động của Phật giáo cũng chịu nhiều
ảnh hưởng, phải ngưng hoạt động. Không ít Tăng sĩ và
Phật tử đã lao vào cuộc kháng chiến chống thực dân, cứu
nước. Các học Tăng tốt nghiệp xuất sắc cùng khóa với
Ngài có Hòa thượng Trí Quang, Trí Thuyên... cũng không ngần
ngại dấn thân vào các tổ chức cứu nước. Ngài hăng hái
phụ trách Ủy Ban Phật Giáo Cứu Quốc tại tỉnh Quảng Trị,
nhờ tri kiến uyên thâm và tài hùng biện vô ngại, Ngài đã
vận động được sự ủng hộ từ nhiều phía đóng góp nhân
tài vật lực cho kháng chiến.
Năm
Bính Tuất (1946) đến năm Đinh Hợi (1947), nhiều tổ chức
kháng chiến tại Huế tan vỡ, quân viễn chinh Pháp tràn ra
Quảng Trị, Quảng Bình, gây nhiều tang tóc bi thương. Ngài
bị Pháp bắt giam một thời gian. Sau đó vội vàng về Huế,
Ngài cùng với nhiều vị khác khôi phục lại các hoạt động
Phật giáo.
Năm
Đinh Hợi (1947), sau khi trợ duyên cùng Hòa thượng Trí Thủ
khai giảng Phật học đường Trung Việt tại chùa Báo Quốc
(Huế), Ngài cũng kịp lúc góp sức cùng các Hòa thựơng Mật
Hiển, Mật Nguyện vận động thành lập Sơn môn Tăng già
Trung việt.
Năm
Kỷ Sửu (1949), Ngài được phân công đi vào phía Nam Trung
Việt và Cao nguyên, khôi phục và thành lập lại các Tỉnh
hội. Ngài đã xây dựng được nhiều cơ sở vững chắc cho
Hội An Nam Phật Học tại các tỉnh Lâm Viên, Đồng Nai Thượng,
Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận.
Năm
Tân Mão (1951), Giáo Hội Tăng Già Trung Việt được thành lập
tại Huế. Đây là nơi gặp gỡ thường xuyên của các vị
lãnh đạo để bàn bạc những vấn đề thiết yếu cho Phật
giáo. Và chỉ một năm sau tại chùa Quán Sứ (Hà Nội), Giáo
Hội Tăng Già Toàn Quốc được thành lập. Tại đại hội
quan trọng này Ngài được bầu vào Chủ tọa đoàn điều
khiển các cuộc thảo luận.
Trong
thời gian làm Phật sự tại miền Nam Trung Việt và Cao nguyên.
Ngài thường xuyên viết bài cộng tác với Tạp chí Viên Âm
do Hòa thượng Trí Quang làm chủ bút. Ngài còn làm chủ nhiệm
tạp chí Hướng Thiện xuất bản tại Đà Lạt năm 1950. Trong
thời gian tại Khánh Hòa, Ngài đã làm Trị sự trưởng Tỉnh
Giáo Hội một thời gian dài, đã đóng góp rất nhiều trong
việc xây dựng các cơ sở chi hội tại các quận và các khuôn
hội tại Thị xã Nha Trang. Đặc biệt khuôn hội Linh Thứu
gồm đa số đồng bào di cư ở khu Xóm Mới đã được Ngài
trực tiếp hướng dẫn dìu dắt trong những ngày đầu. Từ
nơi này, Ngài cũng có công sức rất lớn cho việc nuôi dưỡng
và hình thành Phật Học Viện Hải Đức (Nha Trang).
Năm
Kỷ Hợi (1959), tại đại hội của Tổng Hội Phật Giáo Trung
Phần được tổ chức tại Huế, Ngài được suy cử làm Trị
sự trưởng Tổng Hội, cho đến năm Nhâm Dần (1962) thì Hòa
thượng Trí Quang lên thay để Ngài lãnh trọng trách khác.
Năm
Quý Mão (1963), đây là thời điểm mà bất kỳ một Tăng sĩ
hay Phật tử nào có nhiệt tâm, lòng thành mến đạo, đều
ưu tư và lo góp phần mình trong công cuộc chống kỳ thị
tôn giáo của chính thể Ngô Đình Diệm. Ngài đã cùng Ban
Trị Sự Tổng Hội, dưới sự lãnh đạo tối cao của Đại
lão Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết, phát động phong trào đấu
tranh, đòi thực thi năm nguyện vọng đã lập thành kiến nghị
đề ngày 10.5.1963. Sau đó, Ngài cùng Hòa thượng Trí Quang
cung thỉnh Hòa Thượng Hội Chủ vào Sài Gòn để chuyển cuộc
đấu tranh trực tiếp với chính thể Ngô Đình Diệm, và nơi
này Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo được thành lập,
Ngài là một trong năm thành viên ở ngôi vị cố vấn.
Sau
khi Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại ngã tư Phan
Đình Phùng và Lê Văn Duyệt, chính thể Ngô Đình Diệm hốt
hoảng, yêu cầu Ủy Ban Liên Phái cử phái đoàn đến để
thương thuyết. Ngài được cử làm Trưởng đoàn trong lần
thương thuyết này. Trước sự việc còn đang gây nên nhiều
làn sóng đấu tranh, phẫn uất, Trần Lệ Xuân lại còn mô
tả hành động tự thiêu của Ngài Quảng Đức với những
lời lẽ khiếm nhã nhất, Ngài bình tĩnh khôn ngoan đối chất
với Ủy Ban Liên Bộ, dùng khả năng hùng biện, lý lẽ vững
chắc, Ngài đã thẳng thừng lên án chính phủ dồn họ vào
thế phải ký bản Thông Cáo Chung. Mặc dù bản Thông Cáo Chung
này chỉ là kế hoãn binh để Ngô Đình Diệm chuẩn bị một
kế hoạch thâm độc hơn, đó là kế hoạch “Nước lũ”
và nó đã được thực hiện vào đêm 20.8.1963. Rất nhiều
chùa chiền bị bao vây và Chư tôn giáo phẩm bị bắt bớ,
đánh đập trong đó có Hòa thượng Hội chủ Tịnh Khiết,
Ngài cũng cùng chung số phận ngay trong đêm đáng nhớ ấy.
Ngày
1-11-1963, Tướng Dương Văn Minh cùng các tướng lãnh quân đội
nổi dậy lật đổ Ngô Đình Diệm, mọi tai họa dành riêng
cho một tôn giáo lớn của dân tộc mới hoàn toàn chấm dứt.
Năm
Giáp Tuất (1964), Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
được thành lập với ngày Lễ Phật Đản huy hoàng chưa từng
có tại Việt Nam được thể hiện bằng lễ đài hùng vĩ
ngay tại Bến Bạch Đằng Sài Gòn. Trong tổ chức Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất này, Ngài được suy cử làm
Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo kiêm Tổng vụ Trưởng Tổng
Vụ Thanh Niên.
Với
cương vị mới mẻ và quan trọng này, Ngài đã vận động
từ mọi nơi, xây dựng nên Trung tâm Quảng Đức ở số 194
đường Công Lý (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa). Đây là trụ sở
của Tổng Vụ Thanh Niên và trụ sở của các Vụ trực thuộc
như Gia đình Phật tử, Hướng Đạo Phật giáo, Thanh Niên
Phật tử, Sinh Viên Phật tử , Học Sinh Phật tử , Thanh Niên
Thiện chí Phật tử ... Nơi đây còn là Trung Tâm Văn Hóa Xã
Hội hoạt động rất sôi nổi của Giáo Hội. Đồng thời,
còn là nơi xuất phát nhiều cuộc đấu tranh đòi dân chủ
trong nửa cuối thập niên 60. Khi vừa hoàn thành xong công trình
to lớn này, Ngài được Giáo hội cử làm Trưởng Đoàn Phật
Giáo Việt Nam đi dự Hội Nghị Phật Giáo Thế Giới được
tổ chức tại Nhật Bản.
Những
năm cuối thập niên 60, phong trào đấu tranh đòi thực hiện
Quốc Hội Lập Hiến, Dân Chủ Dân Sinh bùng nổ khắp mọi
nơi. Ở miền Trung (Đà Nẵng) vào ngày 15 tháng 5 năm 1966 trước
làn sóng đấu tranh của Phật Giáo, 2.000 lính dã chiến đã
bao vây chùa chiền. Cuộc đổ máu đã diễn ra bởi sự đàn
áp của quân đội từ Sài Gòn ra với các cánh quân địa
phương. Hơn 600 Tăng Ni, Phật tử chết và 1.000 người khác
bị thương. Trước tình hình đó, Hòa thượng Trí Quang hô
hào tiến hành cuộc đấu tranh bất bạo động, và một trong
nhiều hình thức bất bạo động được Hòa Thượng Trí Quang
chỉ thị là “thỉnh Phật xuống đường”. Những việc
làm đó để hỗ trợ cho cuộc đối đầu của Ngài Thiện
Minh ở Sài Gòn.
Nhân
danh Chủ tịch các lực lượng đấu tranh và Tổng Vụ Trưởng
Tổng Vụ Thanh Niên, Ngài đã gặp trực tiếp hai tướng Thiệu-Kỳ
đưa ra những yêu sách đấu tranh. Đó là ngày 28.5.1966, hai
tướng này hứa ngày hôm sau phúc đáp. Ngài hướng dẫn phái
đoàn ra về hẹn lại hôm sau. Riêng Ngài sau khi báo cáo kết
quả cùng Viện Hóa Đạo và các phong trào do Ngài làm Chủ
tịch, Ngài một mình đi bằng Taxi về Trung Tâm Quảng Đức.
Ngài vừa đặt chân xuống lề đường ngay trước cổng Trung
Tâm thì một quả lựu đạn nổ ngay chỗ Ngài vừa bước
ra. Rất may Ngài chỉ bị thương tật ở chân. Ngay chiều hôm
sau, các vị khác thay mặt Ngài vào gặp hai tướng Thiệu -
Kỳ thì được trả lời bằng thái độ tráo trở “không
nhượng bộ nữa”.
Từ
cuộc ám sát đó, sức khỏe của Ngài giảm sút thấy rõ.
Mọi hoạt động của Ngài như mất dần kết quả nguyên vẹn.
Tuy nhiên, Ngài cũng không kém quyết liệt trước mọi tình
huống xảy ra, vẫn tiếp tục lãnh đạo Giáo Hội cùng Chư
tôn đức khác.
Năm
1971, Ngài được cử làm Phó Viện TrưởngViện Hóa Đạo,
đây là giai đoạn Viện Hóa Đạo bị phân hóa trầm trọng,
Ngài đã góp phần ổn định, lèo lái vượt qua, ngay cả những
năm ác liệt nhất của chiến tranh.
Năm
1972, khi Hòa thượng Thiện Hoa viên tịch, Ngài phải ra đảm
đương chức Quyền Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, cho đến
khi tổ chức được Đại Hội Phật Giáo kỳ 4, Hòa thượng
Trí Thủ nhận chức Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, Ngài mới
rút về làm cố vấn cho Viện Hóa Đạo mà thôi.
Thời
gian sau đó, vì sức khỏe, Ngài phải hạn chế hoạt động,
trao lại chức Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Thanh Niên dù chưa
có người thay, do đó Viện Hóa Đạo đã đặc cách quyền
Tổng Vụ Trưởng cho Đại Đức Giác Đức cho đến năm 1975.
Sau đại hội kỳ 7 của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất, Ngài được mời làm Cố Vấn Ban chỉ đạo Viện Hóa
Đạo (năm 1976).
Từ
đó, Ngài càng lui dần vào tịnh dưỡng, mãi cho đến tháng
10 năm 1978. Vì tuổi già sức yếu và bệnh tật, nên Ngài
đã thu thần viên tịch tại nơi an trí.
Hòa
thượng Thiện Minh trụ thế được 56 năm và 36 năm hành đạo.
Chùa
Thuyền Tôn (Huế) đã lập tháp vọng thờ Ngài với ngày kỷ
niệm tưởng nhớ công ơn là 15 tháng 9 âm lịch.
Chú
thích :
(1)
Theo gia phả chi thứ 5, phái thứ II, họ Đỗ Khắc, làng Bích
Khê, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, tám anh em là: Xuân
Tiềm, Thị Tiến, Xuân Khôi (chết năm 1917), Thị Diệu, Xuân
Hàng (1922-1978), Xuân Tú, Xuân Uyển, Thị Danh.