HÒA
THƯỢNG
THÍCH
THIỆN HÒA
(1907
- 1978)
Hòa
thượng pháp hiệu Thích Thiện Hòa, thế danh Hứa Khắc Lợi,
sinh năm 1907 tại làng Tân Nhựt, Chợ Lớn.
Ngài
sinh trong một gia đình trung lưu, thân phụ là ông Hứa Khắc
Tài, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Giáp, có cả thảy bảy anh
em, Ngài là con út.
Ngài
được cha mẹ cho học hết bậc Trung học và mời Thầy dạy
thêm Nho học nên Ngài sớm trở thành người trí thức trong
xã hội thời bấy giờ.
Năm
15 tuổi, Ngài phát tâm mộ đạo, tìm đến chùa Long Triều
trong làng để quy y thọ giới với Tổ Bửu Sơn và được
pháp danh là Tâm Lợi, hiệu Thiện Hòa.
Năm
17 tuổi, Ngài vâng lệnh bà nội buộc lập gia đình để kế
thừa hương hỏa, và có được hai người con một trai, một
gái. Đến năm 20 tuổi, Ngài ăn trường chay, cất một am nhỏ
để thọ trì kinh Kim Cang suốt mười hai năm và tập hạnh
của người xuất gia.
Năm
28 tuổi, các người thân lần lượt khuất bóng, hiếu nghĩa
đã vẹn toàn, sắp đặt việc gia đình xong, Ngài quyết chí
xuất gia, được Tổ Bửu Sơn giới thiệu đến Tổ Khánh
Hòa làm thầy thế độ. Lễ xuất gia tổ chức vào tháng tư,
năm Ất Hợi (1935) tại Phật học đường Lưỡng Xuyên Trà
Vinh.
Tuy
mới xuất gia nhưng phong cách vượt hơn chúng bạn nên tất
cả đồng ý cử Ngài làm Chánh trị sự của trường. Nhờ
sự chăm chỉ học hành, tinh tấn tu tập, nên được ban Giám
đốc nhà trường ngợi khen và toàn chúng đều quí kính Ngài
như người anh cả.
Năm
1936, Ngài được tuyển chọn cùng hai vị Hiển Thụy, Hiển
Không ra Huế học. Đến Huế, Ngài cùng hai vị được vào
học trường Tây Thiên dưới sự giảng dạy của Hòa Thượng
Phước Huệ chùa Thập Tháp, Bình Định. Năm sau, trường dời
về chùa Tường Vân. Cuối năm 1938, Tổ Phước Huệ vì kém
sức khỏe, trở về Bình Định dạy tại chùa Long Khánh, Ngài
cũng theo vào Bình Định học và làm thị giả hầu Tổ một
năm rồi lại ra Huế học ở Phật học đường Báo Quốc
năm năm.
Năm
1945, Hòa Thượng ra miền Bắc quyết tâm học luật, và Ngài
thọ Cụ Túc giới tại giới đàn chùa Bút Tháp năm Ất Dậu
1945. Sau đó, đến Nam Định học luật với Tổ Tuệ Tạng
tại chùa Quy Hồn, rồi đến Hà Nam học với Tổ Tế Xuyên
ở chùa Bảo Khám. Lúc này, Ngài có chủ trương tuần báo
Hoa Sen rất thích hợp với tín đồ xứ Bắc.
Năm
1949, Hòa thượng hợp tác với sư cụ Tố Liên thành lập
Giáo Hội Tăng Ni Chỉnh Lý Bắc Việt (tiền thân của Giáo
Hội Tăng Già Bắc Việt) và mở Phật học đường đào tạo
Tăng Ni tại chùa Quán Sứ - Hà Nội. Nơi đây, ngoài chức
Giám trường, Ngài còn trợ bút cho Tạp chí Phương Tiện và
Bồ Đề Tân Văn. Đến năm 1950, Ngài trở về Nam, được
cử làm Giám đốc Phật học đường Nam Việt, cơ sở đặt
tại chùa Sùng Đức.
Năm
1951, Hòa Thượng Thích Trí Hữu cúng cho Ngài ngôi chùa lá
nhỏ hiệu là Ứng Quang gần ngã ba Vườn Lài. Ngài cho sửa
ngôi chùa này thành trường học, để hiệu là Phật học
đường Nam Việt, nay là chùa Ấn Quang quận 10, TP Hồ Chí
Minh. Chính nơi đây đã đào tạo những Tăng tài đảm đang
Phật sự như lớp đầu tiên sáu vị ra trường: Thầy Huệ
Hưng, Bửu Huệ, Thiền Tâm, Tắc Phước, Tịnh Đức, Đạt
Bửu.
Năm
1953, Ngài kiêm nhiệm chức vụ Trị Sự Trưởng Giáo Hội
Tăng Già Nam Việt thay cho Thượng tọa Huyền Dung đi Anh quốc
tu học
Năm
1960, Ngài sáng lập thêm Phật học viện Giác Sanh, đặt tại
chùa Giác Sanh, Phú Thọ.
Năm
1964, Ngài mở Phật học viện Huệ Nghiêm từ một bãi đất
nghĩa địa trống ở Bình Chánh. Từ trường Trung học chuyên
khoa rồi tiến lên Viện Cao đẳng Phật học, và Ngài giữ
chức Giám luật đến cuối đời. Song song với trường Tăng,
Ngài còn làm Giám đốc Phật học Ni trường Từ Nghiêm, Ni
trường Dược Sư. Ngài mở khóa huấn luyện trụ trì bên
Tăng tại chùa Pháp Hội, bên Ni tại chùa Dược Sư, và khóa
Như Lai Sứ Giả đặt trụ sở tại chùa Tuyền Lâm.
Ngoài
công tác giáo đục đào tạo Tăng tài, về mặt tổ chức
Giáo hội, năm 1952, Ngài hướng dẫn phái đoàn Giáo Hội Tăng
Già Nam Việt tham dự Đại hội thống nhất Tăng Già Việt
Nam tại chùa Quán Sứ - Hà Nội và được Đại biểu ba miền
suy cử Ngài làm Trị Sự Trưởng Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc.
Năm
1965, Ngài được bầu làm Tổng Vụ trưởng Tổng vụ Tài
chánh Kiến thiết Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
Năm 1969, Ngài được tấn phong Hòa thượng, và đến năm 1973,
được suy tôn Phó Tăng Thống cho đến ngày viên tịch.
Năm
1974, Ngài bệnh nặng, sau khi qua khỏi, Ngài biết rằng sức
khỏe không thể bình phục như xưa, cho mời các bậc tôn túc
cận sự để lập Hội đồng Quản trị Tổ đình Ấn Quang,
di chúc bàn giao mọi việc cho Hội đồng Quản trị thay thế
Ngài điều hành cơ ngơi sự nghiệp mà Ngài đã tạo dựng
nên trong suốt quá trình hoằng đạo.
Ngài
nằm bệnh gần ngót bốn năm, cho đến ngày đầu xuân Di Lặc
mồng Một tháng Giêng năm Mậu Ngọ, (07-02-1978) Ngài xả báo
thân thâu thần tịch diệt, hưởng thọ 72 tuổi đời, hóa
đạo 43 năm.
Công
hạnh Ngài để lại cho đời vô cùng to lớn, gồm nhiều lĩnh
vực: truyền giới, kiến thiết, trước tác.
Về
phần truyền giới:
- Yết
ma Đại giới đàn chùa Pháp Hội năm 1957 - 1958.
-
Hòa thượng Đàn đầu giới đàn Tỳ kheo tại Phật học Đường
Nam Việt năm 1960.
-
Đàn đầu Hòa thượng Đại giới đàn chùa Ấn Quang năm 1962.
-
Yết ma Đại giới đàn tại Việt Nam Quốc Tự năm 1964.
-
Giáo Thọ Đại giới đàn tại Phật Học Viện Huệ Nghiêm
năm 1966.
-
Giáo Thọ Đại giới đàn tại Phật Học Viện Hải Đức
- Nha Trang năm 1968.
-
Yết Ma Đại giới đàn tại Phật Học Viện Huệ Nghiêm năm
1969.
-
Giáo Thọ Đại giới đàn Vĩnh Gia tại Đà Nẵng năm 1970.
-
Đàn đầu Hòa thượng tại chùa Phật Ân - Mỹ Tho năm 1972.
-
Đàn đầu Hòa thượng Đại giới đàn tại Long Xuyên năm
1974.
Về
phần trước tác:
- Tài
liệu Trụ trì.
-
Giới đàn Tăng.
-
Tỳ Kheo giới kinh.
-
Nghi thức Hằng thuận Quy y.
-
Ý nghĩa về nghi thức tụng niệm.
-
Nhân duyên Phật kiết giới.
Về
phần kiến thiết:
- Sáng
lập Phật học đường Nam Việt.
-
Sáng lập Phật học viện Giác Sanh.
-
Sáng lập Phật học viện Huệ Nghiêm.
-
Kiến tạo Phật học Ni trường Từ Nghiêm.
-
Kiến tạo Phật học Ni trường Dược Sư.
-
Kiến tạo trường Bồ Đề Giác Ngộ.
-
Kiến tạo trường Bồ Đề Huệ Đức.
-
Sáng lập Hãng vị trai Lá Bồ Đề.
-
Sáng lập Cô nhi viện Diệu Quang.
-
Kiến tạo lò thiêu An Dưỡng Địa.
-
Kiến tạo tháp Phổ Đồng.
-
Kiến tạo Đại Tòng Lâm Phật Giáo tại Bà Rịa Vũng Tàu.
Ngài
là một danh Tăng khả kính mà đức độ danh tiếng vang khắp
ba miền. Cả cuộc đời tận tâm phục vụ đạo pháp, trùng
hưng xây dựng con người và cơ sở vật chất cho Phật giáo.
Ngài còn là một luật sư nghiêm trì giới luật, nổi tiếng
phạm hạnh và hòa nhã. Công hạnh của Ngài là tấm gương
sáng, ngàn đời ngưỡng mộ đã ghi lại trên trang lịch sử
Phật giáo một sự nghiệp muôn thuở đậm nét không phai.