HÒA
THƯỢNG
THÍCH
HOÀN THÔNG
(1917
- 1977)
Hòa
thượng thế danh là Nguyễn Minh Có, pháp danh Huệ Đạt, pháp
hiệu Hoàn Thông, sinh năm Đinh Tỵ (1917) triều Khải Định
năm đầu, tại ấp Hội An, xã An Phú Tân, huyện Cầu Kè,
tỉnh Trà Vinh, trong một gia đình nông dân nghèo. Thân phụ
là cụ ông Nguyễn Văn Phuông, thân mẫu là cụ bà Nguyễn
Thị Sửu, Ngài mồ côi cha lúc 13 tuổi.
Thiện
duyên đưa đến cho hạt mầm Bồ đề trong tâm Ngài phát triển.
Năm 1930, trong thân tộc có ông Hồ Trinh Tương, gia tư khá
giả, phát tâm phụng sự Tam Bảo, xuất tiền của xây một
ngôi chùa, lấy hiệu là Hội Thắng Tự. Ông xuất gia đầu
Phật, húy là Tường Ninh, pháp danh Đắc Ngộ, pháp hiệu Niệm
Hưng và làm trú trì chùa này để hoằng dương đạo pháp.
Ngài được thân mẫu cho phép xuất gia với Sư cụ trú trì
chùa Hội Thắng khi vừa mồ côi cha, được ban pháp danh Huệ
Đạt. Năm 16 tuổi (1933) Ngài được Bổn sư cho thọ giới
Sa Di.
Sau
đó Ngài được theo học với Hòa thượng Khánh Anh tại chùa
Long An, xứ Đồng Đế, quận Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ, được
ban pháp hiệu là Hoàn Thông. Đó là thời kỳ Hòa thượng
Khánh Anh phối hợp với các Hòa thượng Khánh Hòa, Huệ Quang,
Pháp Hải thành lập Liên Đoàn Phật Học Xã hoạt động được
hai năm thì đóng cửa vì thiếu tài chánh. Qua năm 1935 Hội
Lưỡng Xuyên Phật Học lại được các Hòa thượng nói trên
thành lập tại Trà Vinh. Phật học đường Lưỡng Xuyên cũng
được thành lập tiếp theo đặt tại chùa Long Phước, nơi
trụ sở của hội.
Ngài
lại được Bổn sư cho về học tại Phật học đường Lưỡng
Xuyên trong ba năm. Năm 21 tuổi, Ngài thọ Cụ Túc giới tại
Đại giới đàn mở ở Tân Hương, tỉnh Bến Tre.
Năm
1942, Phật học đường Lưỡng Xuyên tạm ngưng vài tháng vì
thiếu tài chánh. Hòa thượng Khánh Anh lui về chùa Phước
Hậu ở quận Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ để mở lớp Tăng học.
Ngài cũng theo Hòa thượng về đây tiếp tục tu học và làm
thị giả cho Hòa thượng.
Qua
năm 1943, Bổn sư của Ngài là Hòa thượng Đắc Ngộ ở chùa
Hội Thắng viên tịch, Ngài phải trở về thừa tiếp làm
trú trì bản tự. Tuy là trú trì chùa Hội Thắng, Ngài vẫn
thường vân du hành đạo nhiều nơi. Cách mạng tháng 8 năm
1945 rồi Nam bộ kháng chiến, Ngài lãnh chức Phó Hội trưởng
Liên đoàn Phật Giáo Cứu Quốc trong mặt trận Việt Minh tỉnh
Vĩnh Trà do Hòa thượng Hoàn Tâm chùa Phật Quang ở Trà Ôn
làm Chánh Hội trưởng. Cũng trong thời gian kháng chiến chống
Pháp này, Ngài được phân công làm trú trì chùa Phước Tường
xã Phong Phú và chùa Vạn Hòa ở Cầu Kè. Tại các nơi này,
tín đồ kính phục đạo hạnh của Ngài, đến quy y thọ giới
rất đông.
Sau
khi sắp xếp cho hai chùa nói trên có các vị trú trì mới,
Ngài đến trú trì chùa Long Khánh ở Trà Vinh, tham gia các hoạt
động của Giáo Hội Tăng Già Nam Việt và Hội Phật Học
Nam Việt. Đến năm 1964, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất được thành lập. Tại Đại hội thành lập Tỉnh Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Vĩnh Bình, Ngài
được cung cử vào ngôi vị Chánh Đại Diện. Từ đó các
hoạt động Phật sự quan trọng trong tỉnh như các đại lễ,
các khóa an cư kiết hạ, sơn môn đều thỉnh Ngài tới chứng
minh hoặc giảng dạy.
Ngài
thuộc vào hàng giáo phẩm rất thông hiểu Nho học và tinh
thâm Phật pháp, nên được Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam Thống Nhất triệu thỉnh lên chùa Ấn Quang để
sung vào các phái đoàn mở khóa an cư kiết hạ, Ngài được
cung thỉnh vào ban tổ chức phụ trách lễ nghi. Nhân dịp này,
Ngài biên soạn một cuốn sách về nghi thức tụng niệm áp
dụng cho các tự viện trong và ngoài tỉnh, để thực hành
các khóa lễ cầu an, cầu siêu v.v... cho thống nhất. Cuốn
sách này sau lấy tên là “Nghi lễ”.
Năm
1968, Ngài được giữ chức Giám viện Phật học viện Khánh
Hòa (tức Phước Hòa cũ). Ngài còn đỡ đầu kiến tạo một
ngôi Tam Bảo tại ấp Tân Đức, xã Bến Cát, huyện Tiểu
Cần, hiệu là Như Pháp Tự (Thượng tọa Lưu Đoan làm trú
trì).
Suốt
đời Ngài hy sinh phục vụ đạo pháp cho đến khi thọ bệnh
ba năm phải lui về chùa Hội Thắng tĩnh dưỡng. Nhưng rồi
theo luật vô thường, hữu sinh tất hữu diệt, vào lúc 14
giờ, ngày 09 tháng 03 năm Đinh Tỵ (1977), Ngài đã thị tịch
tại bổn tự, trụ thế 61 tuổi đời, 40 tuổi hạ.