HÒA
THƯỢNG
THÍCH
TỐ LIÊN
(1903
- 1977)
Hòa
thượng thế danh Nguyễn Thanh Lai, sinh năm Quí Mão (1903), tại
làng Quỳnh Lôi, tổng Kim Liên, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông.
Xuất thân trong một gia đình Nho giáo, thân phụ là cụ ông
Nguyễn Văn Định và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Đào.
Ngài
xuất gia năm 13 tuổi tại chùa Hương Tích, là đệ tử của
Tổ Thanh Tích. Với tính cương trực, năng động, mặc dù
được chọn làm trưởng pháp tử kế vị chùa Hương Tích,
song Ngài quyết tâm du phương tham học nơi các đạo tràng
danh tiếng như Đào Xuyên, Tế Xuyên, Bằng Sở, Vĩnh Nghiêm...
và đã từng trú trì ở chùa Côn Sơn, Thanh Mai.
Năm
1935, sau phong trào chấn hưng Phật Giáo toàn quốc, sẵn có
giới đức trang nghiêm và trí tuệ minh mẫn, sở học uyên
thâm, Ngài được hội Bắc Kỳ Phật Giáo cung thỉnh ra chùa
Quán Sứ, Hà Nội để chung lo Phật sự.
Ngoài
việc phụng sự chung cho đại cuộc Phật giáo, Ngài đã đóng
góp rất nhiều cho Phật học đường Quán Sứ như giảng dạy,
chủ sám và giới sư các đại giới đàn, cùng tham gia tích
cực cho những hoạt động về văn hóa và xã hội của Phật
giáo miền Bắc.
Năm
1945, sau một thời gian dài dưỡng bệnh tại Côn Sơn, Ngài
lại trở về Quán Sứ. Vận dụng kiến thức và trí tuệ
vốn có, Ngài cùng với Hòa thượng Trí Hải xuất bản báo
Tinh Tiến (ở Bắc Việt) để truyền bá Phật pháp trong hoàn
cảnh mới của đất nước đã giành lại chủ quyền. Ý thức
trách nhiệm trước sứ mệnh lịch sử của dân tộc và đạo
pháp, Ngài khắc phục mọi trở ngại, đề cao chủ trương:
Thống nhất Phật giáo, đoàn kết Tăng Già. Và cuối cùng,
năm 1949, nguyện vọng ấy đã đạt được qua việc thành
lập Hội Tăng Ni Chỉnh Lý Bắc Việt với tạp chí Phương
Tiện do Ngài làm chủ bút kiêm chủ nhiệm, hội này là tiền
thân của Hội Phật Giáo Tăng Già Bắc Việt (năm 1950) vẫn
do Ngài làm Chủ tịch, đồng thời giữ chức Phó Hội trưởng
Hội Việt Nam Phật Giáo.
Tháng
5-1950, Ngài đại diện cho Phật giáo Việt Nam đi dự Hội
nghị thành lập Hội Thế Giới Phật Giáo Liên Hữu tại Tích
Lan. Phật giáo Việt nam là một sáng lập viên. Tại hội nghị
này lá cờ 5 sắc được công nhận là Phật kỳ và Ngài được
Đại Hội suy cử làm đệ nhất Phó Hội Trưởng. Ngài là
đại diện Ban Chấp Hành Thế Giới Phật Giáo Liên Hữu Việt
Nam, trụ sở đặt tại chùa Quán Sứ, Hà Nội.
Năm
1951, Ngài là một sáng lập viên Tổng Hội Phật Giáo Việt
Nam, tổ chức thống nhất Phật giáo toàn quốc, gồm cả Tăng
Già và cư sĩ thuộc Bắc, Trung, Nam để phù hợp với đà
tiến hóa chung của Phật giáo thế giới.
Năm
1952, tháng 9, Ngài lại đi tham dự Đại hội Phật giáo Thế
giới tại Nhật, nhằm tăng cường Phật sự trên cơ sở Phật
giáo thế giới, như phổ biến giáo lý Phật Đà trong các
tổ chức giáo dục thuộc mỗi quốc gia, từ tiểu học đến
đại học, thực hiện các công tác nhân đạo, từ thiện,
xã hội, thành lập đoàn Thanh niên Phật tử Thế giới. Trong
Phật sự đó từ năm 1950 đến 1954, Ngài hướng dẫn thành
lập các tổ chức Gia Đình Phật Tử ở khắp miền Bắc một
cách nhanh chóng.
Từ
những năm 1949 đến 1954, Ngài tích cực đi vận động các
vị Tôn Túc lãnh đạo Phật giáo khắp miền Bắc Trung Nam,
để xây dựng cơ sở vững chắc cho một Giáo Hội tương
lai. Kết quả Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc được thành lập
năm 1952 và Ngài được cử làm Tổng thư ký.
Về
xã hội, suốt khoảng thời gian từ 1945-1954, Ngài là vị trụ
trì chùa Quán Sứ - Hà Nội, một trung tâm đào tạo Tăng tài
và điều hành toàn bộ Phật sự ở miền Bắc. Ngài đã lập
nên các tổ chức cứu trợ đồng bào gặp hiểm nghèo vì
thiên tai hoặc chiến tranh, và các cô nhi viện Quán Sứ, Tế
Sinh, góp phần tích cực hàn gắn vết thương chiến tranh xoa
dịu nỗi đau trong xã hội.
Về
văn hóa, Ngài cho khắc in rất nhiều bản và phổ biến trong
cả nước bộ “Việt Nam Phật Điển Tùng San”. Ngài cùng
với Hòa thượng Trí Hải xuất bản tạp chí Tinh Tiến, và
còn là chủ nhiệm và chủ bút tờ nguyệt san Phương Tiện,
hậu thân của báo Đuốc Tuệ. Ngài chuyên viết các bài giảng
phổ thông về Phật học để báo Đuốc Tuệ ấn hành.
Về
giáo dục, Ngài có công thành lập trường Tiểu học Khuông
Việt tại chùa Quán Sứ; trường Trung học Vạn Hạnh tại
Hàm Long, Hà Nội. Và đặc biệt quan tâm rất nhiều đến
việc đào tạo Tăng tài bằng cách gởi các Tăng sĩ Việt
Nam du học ở nước ngoài, nhằm phát triển kiến thức, trao
đổi văn hóa, tăng cường hữu nghị và đào tạo Như Lai
sứ giả giữa các quốc gia Phật giáo trên qui mô quốc tế.
Năm
1954, đất nước bị chia cắt, Ngài cùng với các Hòa thượng
đồng chí hướng như Tuệ Tạng, Trí Hải, Vĩnh Tường...
kiên quyết lưu lại Hà Nội để làm cột trụ vững chắc
trong việc truyền thừa Phật sở đã có từ năm 1949.
Đến
năm 1958, Hội Phật Giáo Thống Nhất ra đời, với nội dung
và nhân sự mới, kế thừa sự nghiệp của Ngài trong giai
đoạn mới. Vì bệnh duyên và tuổi ngày một thêm cao, Ngài
phải nghỉ dưỡng bệnh và tĩnh tu ở chùa Quán Sứ và các
nơi khác ở miền Bắc.
Tháng
3 năm 1977, Ngài chống thiền trượng đi gặp và đàm đạo
cùng chư Tăng tại chùa Quán Sứ để tạ từ. Thế rồi chiều
ngày 13 tháng 2 năm Đinh Tỵ, tức ngày 1.4.1977, Ngài an nhiên
viên tịch tại chùa Quán Sứ, trụ thế 75 năm, và hoằng pháp
độ sinh 45 năm. Bảo tháp của Ngài được tôn xây tại chùa
Sùng Phúc, thôn Huỳnh Cung, xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, tỉnh
Hà Tây (nay là Hà Nội). Bảo hiệu là Chân Không Tháp.
Về
trước tác, Hòa Thượng còn để lại những tác phẩm:
- Tấm
gương quy y.
-
Sự lý lễ tụng.
-
Ký sự phái đoàn Phật giáo Việt Nam đi Ấn Độ và Tích
Lan...
Sự
nghiệp và đạo hạnh của Ngài đã đi vào lịch sử Phật
giáo Việt Nam và dân tộc như một tinh đẩu giữa thế kỷ
XX. Với công lao cao cả trong cuộc chấn hưng Phật giáo nước
nhà và đưa đạo Phật Việt Nam góp mặt với Phật giáo thế
giới. Ngài là tấm gương sáng cho các thế hệ Tăng Ni, Phật
Tử vì đã cống hiến trọn đời cho đạo pháp và dân tộc.