HÒA
THƯỢNG
THÍCH
THÀNH ĐẠO
(1906
- 1977)
Hòa
thượng Thành Đạo, thế danh Trần Văn Đước, sinh năm Bính
Ngọ (1906) tại Bến Tre, là trưởng nam của ông Trần Văn
Núi và bà Đặng Thị Phiến. Gia đình thuộc thành phần nông
dân, thông thạo Nho học, kính thờ Phật đạo.
Năm
Ất Mão (1915), khi lên 9 tuổi, Ngài được song thân dẫn đến
đảnh lễ, xin xuất gia với Hòa thượng Chí Thiền, trụ trì
chùa Sắc Tứ Linh Thứu, ấp Xoài Hột, xã Thạnh Phú, tỉnh
Mỹ Tho. Hòa thượng Bổn sư đặt cho pháp danh là Bổn Đức
(theo dòng kệ Tứ Thắng Bích Dung).
Năm
Quý Hợi (1923), thời gian hành điệu chấp tác học Phật chưa
được bao nhiêu thì Hòa thượng Bổn sư viên tịch. Sau khi
cư tang Bổn sư xong, Ngài xin phép sư huynh cho sang đảnh lễ,
cầu học với Hòa thượng Khánh Hòa (trụ trì chùa Tuyên Linh,
Mỏ Cày). Ngài được Hòa thượng chấp thuận, tiếp nhận
làm đệ tử, đặt cho pháp danh là Hồng Huệ, pháp hiệu Thành
Đạo.
Năm
Bính Dần (1926), Ngài thọ Tỳ Kheo giới tại giới đàn chùa
Tân Long, xã Tân Thuận Tây, quận Cao Lãnh, do Đại lão Hòa
thượng Từ Vân làm Đường đầu truyền giới.
Sau
khi thọ giới, Ngài xin ở lại chùa hai năm để nương nhờ
công đức, đồng thời tranh thủ học hết bốn quyển Luật
Tỳ Ni. Hòa thượng Từ Vân thấy Ngài có ý chí, ngày đêm
chăm lo học tập chấp tác, không nề hà mọi giờ giấc nên
giới thiệu Ngài đến an cư kiết hạ tại chùa Sắc Tứ Tam
Bảo (Rạch Giá). Trường Hương này do Hòa thượng Trí Thiền
làm Chủ hương, Hòa thượng Lê Văn Thoại chùa Long Hòa (Cao
Lãnh) làm Thiền chủ. Ngài được cử làm Phó chúng trong mùa
an cư đó. Cuối năm này, sau khi mãn hạ về, Ngài được cử
làm trụ trì chùa Bửu Thạnh (Mỹ Tho).
Mùa
hè năm Đinh Mẹo (1927), Ngài đến an cư tại chùa Long Khánh,
Quy Nhơn. Trường hạ này do Quốc sư Phước Huệ chứng minh,
Hòa thượng Huệ Quang (chùa Long Hòa, Trà Vinh) làm Thiền chủ,
Hòa thượng Khánh Hòa (chùa Tuyên Linh, Bến Tre) làm Pháp sư
và bà Lê Thị Ngỡi (Bến Tre) làm Đại thí chủ. Trường
quy tụ thêm hàng trăm Tăng sĩ miền Nam ra nhập hạ. Ngài được
cử làm Chánh quản chúng. Trong dịp này, Ngài được gặp
Hòa thượng Bích Liên và Giáo thọ Thiện Chiếu, là những
Tăng sĩ luôn nặng lòng với mơ ước chấn hưng Phật giáo.
Trong tiếp xúc, Hòa thượng Bích Liên đã đề tặng Ngài hai
câu thơ:
Chánh
niệm huân tu, thượng tọa thâm minh thiền hủy luật.
Chúng
duyên hòa hợp, hương trường viễn bá đạo phong thanh.
Tạm
dịch:
Chánh
niệm vững vàng, thượng tọa hiểu sâu về hủy luật.
Chúng
duyên hòa hợp, trường hương mở rộng đạo thơm xa.
Năm
Canh Ngọ (1930), Ngài được cử về trụ trì chùa Vĩnh Phước
và chùa Hưng Long ở Trà Vinh.
Phong
trào chấn hưng Phật giáo ở miền Nam được phát động từ
năm 1929, Hòa thượng Khánh Hòa là một trong những vị khởi
xướng tham gia tích cực và tiêu biểu. Năm 1930, Hòa thượng
đang kiêm trụ trì hai chùa Tuyên Linh và Sắc Tứ Linh Thứu.
Chùa Sắc Tứ Linh Thứu được chọn làm trụ sở tạp chí
Pháp Âm, tờ báo đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ và là cơ
quan ngôn luận truyền bá cho phong trào chấn hưng Phật giáo.
Ngài Thành Đạo được thế phát tại chùa Linh Thứu, và là
đệ tử của Hòa thượng Khánh Hòa nên đã tham gia phong trào
từ rất sớm. Trụ sở của tờ tạp chí Pháp Âm tại chùa
Sắc Tứ Linh Thứu lại cũng là nơi Tỉnh ủy Mỹ Tho chọn
làm trụ sở báo Dân Cày. Thế nên sau ngày Đảng Cộng Sản
Đông Dương ra đời (3.2.1930), mật thám Pháp phát hiện được
sự liên hệ của phong trào với tổ chức này nên bao vây
chùa Linh Thứu. Thường trụ là Ngài Thủ Tọa Điển phải
bỏ chùa ẩn trốn. Năm 1934, Hòa thượng Khánh Hòa cùng môn
đồ tứ chúng đã đồng ý cử Ngài về trụ trì chùa này.
Công
việc chấn hưng Phật giáo được vài năm hanh thông suôn sẻ
thì mật thám Pháp xen vào, nội bộ lủng củng. Không thể
tiếp tục được nữa nên Hòa thượng Khánh Hòa mở ra hướng
khác, nhằm duy trì sự hoạt động. Ngài đi theo Hòa thượng
Khánh Hòa sang Trà Vinh chủ trương thành lập Hội Lưỡng Xuyên
Phật Học năm 1934. Hòa thượng An Lạc (chùa Vĩnh Tràng) được
cung thỉnh Chánh Hội trưởng, và Ngài là hội viên sáng lập.
Năm
Ất Hợi (1935), Lễ Bộ Thượng Thơ cung lục sắc tứ lần
thứ ba của vua Bảo Đại cho chùa Linh Thứu(1). Lần này, Triều
đình Huế tặng cho chùa thêm hai chữ “Cổ tự” và Tự
trưởng (tức trụ trì Thành Đạo) được thưởng một Ngân
Bài. Liền sau đó, Ngài cho tổ chức Khánh Hạ và lập chúc
thọ giới đàn. Có hơn 100 giới tử về thọ giới và 300
Tăng Ni hộ đàn. Ba vị Hòa thượng Khánh Hòa (chùa Tuyên Linh,
Bến Tre), Thiên Trường (chùa Bửu Lâm, Mỹ Tho), Chánh Quả
(chùa Kim Huê, Sa Đéc) chứng minh và Yết Ma. Ngài được tôn
Đường đầu Hòa thượng.
Năm
Kỷ Mẹo (1939), Hòa thượng An Lạc viên tịch. Ngài được
môn đồ pháp quyến của Hòa thượng tôn làm Trưởng tử
để lo việc tang lễ.
Việc
triều đình Huế ban Sắc Tứ và Ngân Bài cho chùa Linh Thứu
và bản thân Ngài, làm tăng uy tín của Ngài với triều đình.
Nhờ vậy Ngài dễ dàng vận động, khuyến khích Tăng tín
đồ ủng hộ các phong trào yêu nước. Do đó chùa Linh Thứu
trở thành nơi liên lạc của Tỉnh ủy Mỹ Tho, nơi từng nuôi
giấu, che chở cho các lãnh đạo cán bộ cách mạng. Khi cuộc
khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ ngày 23.11.1940 thì chính nơi đây
là điểm xuất phát. Cứ điểm bị phát hiện, mật thám Pháp
theo dõi và bắt giam Ngài tại Khám lớn bốn năm, mãi đến
khi Cách Mạng Tháng Tám thành công (1945), Ngài mới được
trả tự do.
Năm
1947, vì chùa Sắc Tứ Linh Thứu đã bị theo dõi thường xuyên,
không thể yên ổn ở tại đó nữa, Ngài bèn phó thác cho
các đệ tử để lên Sài gòn khai sơn chùa Phật Ấn (hiện
nay ở số 539 đường Trần Hưng Đạo, Q. 1) với ý định
ở lại đó vài năm, chờ tình thế lắng dịu sẽ quay về
chùa cũ. Nhưng với tiếng súng ngày mỗi gia tăng từ nhiều
hướng trên toàn đất nước, ý định quay về của Ngài đã
không thành hiện thực.
Những
năm 1949 - 1950, với sự hoạt động mạnh của chiến sự Phật
giáo khắp nơi. Phong trào Phật giáo Cứu quốc bị giải tán,
chỉ còn lại một vài vị tiêu biểu trong Mặt trận Liên
Việt và bước sang thành lập một Giáo hội Phật giáo mới
với tinh thần kháng chiến. Rằm tháng hai năm Nhâm Thìn (1952)
tại chùa Long An (nay ở đường Nguyễn Văn Cừ, Sài gòn) Giáo
Hội Lục Hòa Tăng, hậu thân của phong trào Phật giáo Cứu
Quốc được thành lập, Ngài được cử làm Tăng Giám. Năm
1953, Hội Lục Hòa Phật Tử được thành lập, hai niên khóa
đầu, trụ sở đặt tại chùa Long Vân (Gia Định). Năm 1954,
biến cố Bình Xuyên đã thiêu rụi chùa Phật Ấn. Ngài phải
cho trùng tu lại và trụ sở của Hội Lục Hòa Phật Tử lại
dời về chùa Phật Ấn. Ngài được bầu làm Hội trưởng
liên tiếp hai niên khóa.
Các
công tác từ thiện được hội quan tâm hàng đầu và bản
thân Ngài vốn là một lương y nên chùa Phật Ấn lúc bấy
giờ trở nên phòng thuốc Từ thiện, lúc nào cũng đông đảo
người đến chữa bệnh. Ngài còn cho xuất bản tạp chí Phật
học và thiết lập Khánh Hòa tùng thư. Ngài làm chủ nhiệm
tạp chí Phật Học trong tám năm. Khánh Hòa tùng thư đã xuất
bản được “ Thần thức thông “, “ Tấn đạo nghiệp”.
Mãi
đến ngày 9.11.1968, Giáo Hội Lục Hòa Tăng và Lục Hòa Phật
Tử thống nhất đổi tên là Giáo hội Phật giáo Cổ truyền
Việt Nam, và Ngài được cử chức Tổng Vụ trưởng Hoằng
Pháp, văn phòng cũng đặt tại chùa Phật Ấn. Ngài còn có
công thành lập trường Phật học Lục Hòa (gần chùa Giác
Viên) và đích thân làm Giám đốc nhưng do hoàn cảnh chiến
tranh nên trường không hoạt động thường xuyên được. Cuối
năm ấy, Ngài còn cho mở Đại giới đàn tại chùa Phật Ấn
để tiếp dẫn hậu lai.
Tuổi
già sức yếu, Ngài viên tịch vào ngày 16 tháng 11 năm Đinh
Tỵ (26.12.1977). Thọ 71 tuổi đời, 62 tuổi đạo.
Sau
lễ trà tỳ, xá lợi Ngài được nhập tháp trong khuôn viên
chùa Giác Lâm.
Cuộc
đời Ngài với bốn mùa an cư kiết hạ, trong đó hai lần
được cử làm Thủ chúng. Bảy lần được tham dự giới
đàn, được tặng thưởng y pháp. Nhiều lần làm Pháp sư;
làm Tuyên Luật sư, giải nghĩa Luật tứ phần trong các giới
đàn. Ngoài ra thường khi Ngài còn chuyên trì các kinh Pháp
Hoa, kinh Kim Cang, kinh Bát Nhã v.v... Có đầy đủ công hạnh
một vị xuất gia có tinh thần tiến thủ và đã tạo nên
một sự nghiệp Phật giáo để lại cho mai hậu.
Chú
thích :
(1)
Nguyên chùa Linh Thứu vốn hiệu là Long Tuyền được lập
vào đời Cảnh Hưng. Do Hòa thượng Mẫn Huệ từng có công
giúp Chúa Nguyễn Ánh trong giai đoạn bôn tẩu. Nên vào năm
1811 được Chúa (tức Gia Long sau khi giành lại ngôi) ban hiệu
“Sắc Tứ Long Tuyền Tự”. Năm 1841, lại được vua Thiệu
Trị ban Sắc Tứ lần thứ hai, và lần này chính thức đổi
tên thành Linh Thứu Tự.