HÒA
THƯỢNG
THÍCH
VIÊN GIÁC
(1911
- 1976)
Hòa
thượng thế danh Trần Đại Quảng, pháp danh Tâm Trí, hiệu
Chiếu Nhiên, pháp tự Viên Giác, thuộc đời thứ 43 dòng Lâm
Tế, Liễu Quán.
Ngài
sinh năm Nhâm Tý (1911), tại làng Dương Nổ, huyện Phú Vang,
tỉnh Thừa Thiên, trong một gia đình Nho phong đức hạnh nhưng
có chí hướng cách tân theo Tây học. Thân phụ là cụ ông
Trần Đại Dật, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Mĩu (pháp
danh Tâm Mỹ).
Ngài
lớn lên trong truyền thống giáo dục của gia phong, được
gần gũi nhiều bậc trí thức của thân phụ trong những lần
gặp gỡ đàm luận thân mật. Do đó Ngài đã sớm có được
kiến thức rộng, nhận định, lý giải các sự việc nhanh
chóng, thuận lý lẫn tình, không hề làm mất lòng ai. Ngài
luôn tâm niệm được kết thân với các bậc trí thức là
việc thuận lợi bổ ích trên con đường mở mang trí tuệ.
Nhờ
vào sự vững chãi đó nên dù thân phụ mất sớm, Ngài là
người con trưởng đã phụ giúp mẫu thân rất đắc lực
trong việc nuôi dạy, bảo dưỡng đàn em.
Song
hành với việc chu toàn trách nhiệm gia đình, Ngài vẫn dành
rất nhiều thời gian để nghiên cứu kinh điển Phật giáo.
Ngài nhanh chóng tiếp cận được tinh hoa Phật học, khiến
tinh thần Ngài càng thêm hưng phấn. Từ đó, Ngài luôn nuôi
ước vọng sẽ sống đời tu hành một khi tròn bổn phận
với các em và mẫu thân.
Năm
Đinh Sửu (1937), vừa 27 tuổi, mẫu thân đã an phần và các
em đã lớn khôn, thành đạt cũng như đã an bề gia thất...,
Ngài mang ý chí xuất trần từ lâu đến cầu thọ pháp quy
y với Tổ Bích Không.
Năm
Tân Tỵ (1941), sau bốn năm hành điệu, chấp tác và làm quen
với nghi thức thiền gia, Ngài đã chứng tỏ được sự chọn
lựa đúng đắn của bản thân trước bước ngoặt cuộc đời,
Ngài xin Bổn sư cho thọ Sa Di giới. Liền sau khi thọ giới,
Ngài được Bổn sư chấp thuận cho ra tham học tại Phật
học đường Báo Quốc.
Năm
Mậu Tý (1948), trong giới đàn tại chùa Báo Quốc do Hòa thượng
Thích Tịnh Khiết làm Đàn đầu Hòa thượng, Ngài được
thọ Tỳ Kheo Bồ Tát giới.
Sau
khi mãn khóa tại Phật học đường Báo Quốc, các vị đồng
môn tỏa đi hoằng hóa khắp nơi theo yêu cầu Phật sự của
từng địa phương. Riêng Ngài xin ở lại phát nguyện nhập
thất ba năm hầu củng cố thêm đạo lực và công hạnh trước
khi ra phụng hành Giáo hội.
Năm
Giáp Ngọ (1954), Giáo Hội Tăng Già Trung Việt đề cử Ngài
đảm đương chức vụ Giám đốc Phật học đường Khánh
Hòa. Và cũng trong thời gian này, Ngài được Hòa thượng Phước
Huệ giao trách nhiệm trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
Năm
1956, Ngài đã cùng chư Tôn đức trong Giáo hội, biến chùa
Hải Đức thành Phật Học Viện Trung phần, đóng vai trò quan
trọng trong việc đào tạo Tăng tài cho Phật giáo mai sau.
Tiếp
theo bước chuyển quan trọng ấy, Ngài lại theo yêu cầu Phật
sự đi hoằng hóa nơi vùng cao nguyên Trung phần. Nơi này, Ngài
đã thành lập và điều hành trường Bồ Đề Tuệ Quang, Đà
Lạt.
Ít
lâu sau, Ngài lại tiếp tục ra Vạn Ninh lập trường Phật
học cho Tăng sinh tại Tổ đình Linh Sơn.
Giữa
hai thời gian vận hành Phật sự hữu ích đó, Ngài gặp Cư
sĩ Như Liên, đang tu hành nơi một am tranh nhỏ. Ngài được
cư sĩ giới thiệu các địa danh đậm bản sắc Phật giáo
như làng Xuân Tự, núi Ông Sư, núi Phổ Đà... và tận mắt
chứng kiến cảnh non nước hữu tình xóm thôn yên ả, sơn
bao thủy bọc. Ngài quyết định chọn nơi này và khai sơn
nên chùa Giác Hải để dừng bước tĩnh tu và tiếp Tăng độ
chúng.
Năm
Bính Thân (1956), chùa Giác Hải đã thực sự trở nên nơi
tu học và an cư kiết hạ thường xuyên của chư Tăng bản
xứ. Chùa nhanh chóng trở thành một già lam thắng tích của
Giáo hội và từng bước trở nên một tu viện uy nghiêm, đúng
như tâm nguyện Ngài hằng ôm ấp.
Năm
Quý Mão (1963) sau Pháp nạn, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất được thành lập. Ngài được tiến cử giữ chức Thư
Ký Tổng Vụ Hoằng Pháp trực thuộc Viện Hóa Đạo.
Sau
đó Ngài về giảng dạy tại Phật học viện Trung phần và
Ni viện Diệu Quang (Nha Trang).
Miệt
mài với nhiệm vụ Phật giáo trọng đại, Ngài vẫn không
quên tự rèn luyện thân tâm theo khuôn mẫu thiền gia và dù
ở bất cứ giai đoạn, hoàn cảnh nào và ở đâu, các đệ
tử của Ngài cũng luôn học được những phong cách riêng
biệt, hòa nhã khiêm tốn và giàu lòng thương yêu đồ chúng
của Ngài.
Thời
gian sau đó là sự chuyên tâm dịch kinh, trước tác mà Ngài
đã nghiên cứu phương pháp từ lúc còn tùng học tại Phật
học viện Báo Quốc và nhiếp hóa đồ chúng nhưng vẫn không
từ nan mọi Phật sự được Giáo hội tin cẩn giao phó.
Năm
Bính Thìn, Ngài thị tịch vào sáng ngày 14 tháng 7 năm 1976,
tại chùa Giác Hải, hưởng thọ 65 tuổi đời, 28 hạ lạp.
Về
sự nghiệp văn chương, Ngài đã dịch, trước tác và đã
xuất bản:
Về
dịch thuật :
- Từ
Bi Đạo Tràng Sám Pháp (Lương Hoàng Sám) trọn bộ 10 quyển.
-
Đại Thừa Kim Cang kinh luận (01 quyển).
-
Phẩm Phổ Môn.
-
Bảo Tích (mới dịch, chưa hoàn chỉnh).
Về
trước tác gồm có :
- Quan
hệ tư tưởng.
-
Tìm hiểu Quán Thế Âm Bồ Tát (Phẩm Phổ Môn).
-
Lịch sử phong cảnh chùa Giác Hải.
-
Khuyên niệm Phật (thơ).
Và
còn nhiều tác phẩm khác chưa hoàn chỉnh, bị thất lạc trên
bước đường hoằng hóa khắp nơi.