HÒA
THƯỢNG
THÍCH
TRÍ THẮNG
(
1891-1975)
Hòa
thượng thế danh là Nguyễn Khắc Đôn, tự Đạo Thông, pháp
hiệu Thích Trí Thắng, sinh tháng giêng năm Tân Mão (1891) tại
thôn Lương Lộc, tổng Thiều Quang, huyện Tuy Viễn, phủ Hoài
Nhơn, nay là thôn Lương Lộc, xã Phước Hưng, huyện Tuy Phước,
tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Phò, thân mẫu
là cụ bà Dương Thị Lân. Ngài sinh trưởng trong một gia đình
trung nông, gia giáo và sùng tín Tam Bảo.
Thân
phụ mất sớm, Ngài phải nương nhờ sự giáo dưỡng nơi
người bác ruột là Hòa thượng Ấn Bình trú trì Tổ đình
Thiên Hòa ở Bình Định. Tổ Ấn Bình tinh thông dịch lý và
tướng pháp, thấy rõ sự khả dụng trong tương lai của Ngài,
nên cố tâm dìu dắt, đào tạo Ngài nên người.
Năm
Quý Mão (1903), Ngài đậu Tiểu học tại trường trung học
(collège) Qui Nhơn. Năm Đinh Mùi (1907) không đậu bằng Thành
chung, Ngài quay về học Hán văn và y dược với Tổ Ấn Bình
là những môn sở trường của Tổ và học thêm Pháp văn với
cụ Đinh Trạc.
Năm
Nhâm Tý (1912), Ngài (22 tuổi) được bổ giáo viên hương trường,
dạy tại thôn Bình Thạnh, quận lỵ Tuy Phước. Năm Ất Mão
(1915), Ngài được đặc cách về dạy tại trường Tam Quan
thuộc phủ Hoài Nhơn, vùng giáp ranh với tỉnh Quảng Ngãi.
Hàng năm cứ vào dịp nghỉ hè, Ngài cùng các đồng nghiệp
dạy hè tại vùng La Hà, núi Thiên Ấn, chuyên kèm Hán văn
và Pháp văn cho số công chức Nam triều tại tỉnh đường
Quảng Ngãi. Trong thời gian này, Ngài thường lui tới chiêm
bái Tổ Đình Thiên Ấn, được Hòa thượng Ấn Chiếu giảng
dạy những điều căn bản của Phật pháp như Tứ Đế, Bát
Chánh Đạo, Thập nhị nhân duyên... Ngài được một lão Nho
cho ở trọ, rồi lập gia đình ở đây.
Năm
Mậu Ngọ (1918) gặp nghịch cảnh gia đình, nhưng lại là cơ
duyên cho Ngài nhận thức giá trị đích thực của giáo lý
nhà Phật. Đoạn tuyệt duyên trần, rời bục giảng, Ngài
trở về Bình Định xin xuất gia tu học, được Tổ cho pháp
danh Chơn Cảnh. Năm Canh Thân (1920), 29 tuổi ngài thọ Cụ Túc
giới tại Đại giới đàn chùa Châu Long, (nay là Tổ đình
Tịnh Lâm huyện Phù Cát) do Hòa thượng Phổ Huệ làm Đường
đầu Hòa thượng. Bấy giờ Tổ Ấn Bình phú cho Ngài pháp
tự Đạo Thông, pháp hiệu Trí Thắng, vì Ngài đạt thủ khoa
tại giới trường này.
Năm
Tân Dậu (1921), Tổ Ấn Bình viên tịch, Ngài thừa kế trú
trì chùa Thiên Hòa và mở lớp dạy Hán văn, Pháp văn và Việt
văn cho bá tánh quanh vùng. Đêm 28 tháng chạp năm Nhâm Tuất
(1922), do bất cẩn nên xảy ra hỏa hoạn, chùa bị thiêu hủy.
Ngài xin phép được khuyến giáo khắp các tỉnh miền Nam.
Năm 1923 Ngài tái thiết toàn bộ Tổ Đình Thiên Hòa, tồn
tại cho đến nay.
Năm
Giáp Tý (1924), rằm tháng giêng, sau khi cử đệ tử là Thiền
sư Cát Khánh, đệ tử y chỉ làm Giám tự, Ngài vào Tổ đình
Bát Nhã ở Phú Yên tham học giáo lý, và cùng nhiều vị danh
Tăng khác giảng dạy khóa hạ như các Thiền sư chùa Từ Quang,
Phước Sơn, Kim Cang, Bảo Sơn, Hương Tích, Bảo Tịnh, Thiên
Sơn ở Phú Yên, Phước Tường, Hải Đức, Thiên Bửu, Thiên
Hòa ở Khánh Hòa. Nhờ đó Ngài càng thêm tinh thông nội điển.
Ngày
20 tháng 7 năm Ất Sửu 1925, thiền sư Cát Khánh tịch. Ngài
về cử Ngài Quảng Nguyên đệ tử cầu pháp làm Thủ tọa
thừa kế sự nghiệp Tổ đình Thiên Hòa, rồi Ngài vào Phan
Rang tham yết Hòa thượng Chơn Niệm chùa Trùng Khánh, được
Hòa thượng mời lưu lại. Sau thiện tín chùa Trùng Sơn ở
núi Đá Chồng thỉnh Ngài về làm Thủ tọa, có sự tham chứng
của Hòa thượng Chơn Niệm. Ở đây Ngài cũng mở lớp dạy
chữ Hán, Pháp, Việt và làm thuốc.
Năm
Bính Dần (1926), nữ Phật tử Hà Thị Kỉnh pháp danh Tâm Thành
ở thôn Phước Hậu, xứ Cà Ná, sinh quán Phù Cát, Bình Định,
hiến cúng cho Ngài thảo am của bà cất để tu dưỡng. Ngài
đã xây dựng lên ngôi chùa hiệu là Hương Viên.
Năm
Đinh Mão (1927), Phật tử Tâm Đạt thế danh Võ Thị Huợt,
phu nhân Quản đạo Nguyễn Tập đến chùa Trùng Sơn cung thỉnh
Ngài về thảo am của bà để dạy giáo lý Phật Đà. Sau đó
bà hiến cúng thảo am cho Ngài và được Ngài đổi thành chùa
Thiên Hưng.
Năm
Mậu Thìn (1928), Ngài mở lớp nội điển tại chùa Thiên Hưng.
Đệ tử theo học có các thầy Huyền Diệu, Huyền Tân, Huyền
Cơ, Huyền Lý, Huyền Ý, Huyền Nghĩa, Huyền Đạt, Huyền Châu
(thủ tọa chùa Hương Viên).
Năm
Giáp Tuất (1934) Ngài chứng minh cho Phật tử Như Phượng thế
danh Võ Thị Én sáng lập chùa Long Quang, gần cầu Đạo Long
để tu học. Do đó dân gian thường gọi là chùa Bà Én. Năm
Ất Hợi (1935), được sự ủng hộ tài chánh của thiện tín
vùng Bảo An, Tháp Chàm, Đô Vinh, Ngài cung thỉnh Hòa thượng
Trí Hải chùa Bích Liên ở Bình Định, Hòa thượng Phúc Hộ
chùa Từ Quang ở Phú Yên mở Thích học đường tại chùa
Tây Thiên.
Năm
Mậu Dần (1938), Ngài cùng một số Phật tử thuần thành ở
Phan Rang vận động thành lập An Nam Phật Học chi hội Ninh
Thuận, trụ sở đặt tại chùa Thiên Hưng, do cư sĩ Nguyễn
Công Tích làm Hội trưởng. Năm Kỷ Mão (1939) triều đình
Huế sắc tứ biểu ngạch cho chùa Thiên Hưng. Năm Canh Thìn
(1940), hào lý và nhân dân làng Đắc Nhơn hiến cúng toàn bộ
Thiền Lâm Cổ Tự cho Ngài. Ngài cử đệ tử là Thích Huyền
Tân về làm trú trì. Năm Tân Tỵ (1941), Ngài xin khai khẩn
ba mươi sáu mẫu đất rừng hoang ở phía Nam sông Đồng Mé
để mở làng Phật học. Nhưng đến năm 1945 kế hoạch bị
tan vỡ.
Năm
Nhâm Ngọ (1942), triều đình Huế sắc chỉ khâm ban Đạo điệp
Tăng Cang cho Ngài và sắc tứ biểu ngạch cho chùa Thiền Lâm.
Năm 1943, Ngài chứng minh lễ đặt đá xây dựng nghĩa trang
của hội Phật học và cho dời trụ sở An Nam Phật Học từ
chùa Thiên Hưng lên chùa Long Quang để tiện việc sinh hoạt
tu học của hội viên.
Năm
Giáp Thân (1944), Ngài được chư sơn Bình Định cung thỉnh
chức vị Tuyên luật sư tại đại giới đàn Tổ đình Thiên
Đức, nơi sinh quán của Ngài. Năm Đinh Hợi (1947), Ngài chứng
minh lễ đặt đá xây hội quán An Nam Phật Học tỉnh Ninh
Thuận tại ấp Phủ Hà. Năm 1948, Ngài vận động lập Phật
học đường Phan Rang, chư sơn cung thỉnh Ngài giữ chức Giám
viện kiêm Giám đốc và Giáo thọ trường. Năm Canh Dần (1950),
Ngài được hội Việt Nam Phật Học Trung Việt cung thỉnh
ở ngôi vị chứng minh đạo hạnh và chức vụ Hội trưởng
hội Việt Nam Phật Học tỉnh Ninh Thuận. Cùng năm này Ngài
tái thiết chùa Long Quang để dời trụ sở Giáo hội tỉnh
từ chùa Phước Quang núi Cà Đú về đây. Ngài cũng được
chư sơn cung thỉnh làm Trị sự trưởng Giáo Hội Tăng Già
Ninh Thuận.
Năm
Tân Mão (1951), chư sơn và hội Việt Nam Phật Học tỉnh Khánh
Hòa cung thỉnh Ngài đảm trách chức Giám đốc Phật học
đường Nha Trang. Năm sau, Ngài được cung thỉnh làm Đàn đầu
Hòa thượng tại Đại giới đàn chùa Thiên Bửu ở Ninh Hòa.
Sau đó vì bất đồng về cách thức lãnh đạo của Tổng
trị sự Giáo Hội Tăng Già Trung Việt, năm 1955 Ngài tách ra
thành lập Tịnh Độ Tông Việt Nam và được cử giữ chức
Tông trưởng kiêm Cố vấn Tịnh Độ Tông tỉnh Ninh Thuận.
Với cương vị này Ngài đã chứng minh khai sơn các chùa Trường
Thọ, An Nhơn, Trường Sanh. Năm Tân Sửu (1961), ban Đại diện
Cổ Sơn Môn Trung phần được thành lập, Ngài được mời
làm Chứng minh Đạo sư. Năm Giáp Thìn (1964), Ngài được cung
thỉnh giữ chức Phó Tăng Thống kiêm Giám luật Tịnh Độ
Tông Việt Nam. Cùng năm này Ngài tham gia thành lập Phật học
viện ở Đồng Đế, Nha Trang.
Năm
Ất Tỵ (1965), Ngài mở phòng Đông y tại chùa Thiên Hưng để
chữa bệnh cho dân nghèo và chứng minh sáng lập chùa Bảo
Vân ở thôn Nhơn Hội. Mùa hè năm Ất Mão (1975), Ngài cho gọi
môn đồ và thiện tín về phú chúc Phật sự tương lai. Đến
ngày 12 tháng 5 (21-6-1975) lúc 10 giờ 30', Ngài an nhiên thị
tịch, hưởng thọ 85 tuổi đời, 54 tuổi hạ.
Hòa
thượng Thích Trí Thắng, là một vị cao Tăng đã có nhiều
đóng góp cho phong trào chấn hưng Phật giáo, Ngài hoạt động
liên tục không phút ngơi nghỉ. Nhờ đó mà phong trào Phật
giáo ở tỉnh Ninh Thuận một thời được khởi sắc.