HÒA
THƯỢNG
THÍCH
THIỆN CHIẾU
(1898
- 1974)
Hòa
thượng Thích Thiện Chiếu thế danh là Nguyễn Văn Tài, còn
có tên khác là Nguyễn Văn Sáng, bút hiệu là Xích Liên, sinh
năm 1898 tại xã Long Hựu, huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
Ngài sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống đạo
Phật. Ông nội là Hòa thượng Huệ Tịnh một vị rất tinh
thông Nho học, khai sơn chùa Long Phước(1) tại xã nhà và trú
trì ở đó. Từ nhỏ, Ngài được xuất gia theo hầu ông nội.
Vốn tư chất thông minh, Ngài học chữ Nho rất mau chóng và
lúc 12 tuổi đã có thể “trùng tuyên” Sa Di Luật Giải một
cách thông thạo. Năm 16 tuổi, Ngài đọc làu thông văn quan
thoại. Ngài lại còn tự học và xem được cả sách báo viết
bằng tiếng Pháp.
Ngoài
việc nghiên cứu học tập nội điển, Ngài còn tiếp xúc
với các trào lưu văn hóa Đông Tây. Đặc biệt các loại
tân thư của Trung Hoa và Nhật Bản đã ảnh hưởng lớn đến
tư tưởng Ngài, một điển hình cho lớp Tăng sĩ trẻ cấp
tiến, muốn chấn hưng Phật Giáo theo chiều hướng tích cực,
hoàn toàn đổi mới.
Năm
1926, Ngài lên Sài Gòn để tìm học thêm. Phật tử cung thỉnh
Ngài về trú trì chùa Linh Sơn ở gần chợ Cầu Muối. Bấy
giờ Hòa thượng Khánh Hòa, người khởi xướng phong trào
chấn hưng Phật giáo ở Nam bộ, muốn sớm thành lập một
Hội Phật Giáo Việt Nam chung cho toàn quốc. Nhận thấy Ngài
là một Tăng sĩ trẻ đầy nhiệt huyết và có trình độ tân
học, năm 1927, Hòa thượng Khánh Hòa cử ngài ra Bắc liên
lạc, tiếp xúc với chư Tăng tại các Tổ đình Linh Quang,
Hồng Phúc, Tiên Lữ v.v... Nhưng do nhiều trở ngại, cuộc
vận động không thành.
Trở
về Sài Gòn năm 1928, Ngài đã cộng tác với các Hòa Thượng
Khánh Hòa, Từ Nhẫn, Chơn Huệ và Thiện Niệm thành lập Thích
học đường và Phật học Thư xã tại chùa Linh Sơn. Năm 1929
Ngài hợp lực với Hòa thượng Khánh Hòa vận động Phật
tử hữu tâm ở Trà Vinh gởi mua cho thư xã một bộ Tục Tạng
kinh gồm 750 tập để tôn trí tại chùa Linh Sơn. Tại đây
với tư cách là trú trì, Ngài mở khóa thuyết giảng giáo
lý, kinh điển, truyền đạt tư tưởng đổi mới Phật giáo,
phát huy tinh thần yêu nước, độc lập dân tộc. Ngài mở
trường dạy chữ Quốc ngữ, lập nhà in, viết sách báo. Ngày
chủ nhật hàng tuần, Ngài hướng dẫn Phật tử nghi thức
thực hành thờ cúng Phật đơn giản, nhưng vẫn tròn đầy
niềm tin nơi chánh pháp.
Tư
tưởng mới của Ngài, gắn liền đạo pháp với dân tộc
đã không tránh khỏi sự theo dõi của mật thám Pháp. Chính
quyền thực dân đã trục xuất Ngài, không cho trú trì chùa
Linh Sơn nữa. Nhân duyên mới lại đến, Ngài có người bạn
là cư sĩ Thuần Viên ở Hạnh Thông Tây - Gò Vấp lập một
tịnh thất rộng rãi, mời Ngài về đây dạy Phật pháp và
hướng dẫn phương pháp tu hành.
Thời
gian này Hòa thượng Khánh Hòa có cho xuất bản tập san Phật
học bằng Quốc ngữ lấy tên là Pháp Âm, số đầu ra ngày
13-08-1929. Nhận thấy nội dung tờ Pháp Âm chưa có gì tiến
bộ, Ngài vận động để xuất bản tập san khác lấy tên
là Phật Hóa Tân Thanh Niên, tòa soạn đặt tại chùa Chúc
Thọ ở xóm Thuốc, quận Gò Vấp(2), nội dung tập san này
hướng về tầng lớp cư sĩ trí thức và Tăng sĩ trẻ. Theo
Ngài, Tăng Ni cần phải có trình độ Phật học (nội điển),
xã hội học (ngoại điển) và thông suốt được Ngũ Minh.
Có đủ kiến thức cơ bản như vậy mới đảm bảo được
sứ mệnh hoằng pháp, mới hướng dẫn và lãnh đạo được
quần chúng Phật tử.
Giới
Phật tử cư sĩ và quần chúng khắp vùng Gia Định, Sài Gòn,
Chợ Lớn đồng quy tụ về nghe pháp. Ngài mở khóa tranh biện
về Phật học, viết sách, báo. Ngài thường tranh luận với
các nhà Tây học trên báo chí, chẳng hạn như tờ Tân Phong.
Tại
Hạnh Thông Tây, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định, Ngài thường
sinh hoạt chính trị với các nhà cách mạng, như ông Lê Văn
Trâm tự Bảy Chấm, các nhà tu yêu nước như Hòa thượng
Đạo Thanh(3).
Uy
tín của Ngài ngày càng lan rộng đến mọi tầng lớp nhân
dân, từ bình dân đến trí thức. Các nhà lãnh đạo cách
mạng ở địa phương đều quý kính. Chính trong thời gian
này Ngài được kết nạp vào tổ chức cách mạng (1930). Địa
bàn hoạt động của Ngài là Gò Vấp, Phú Nhuận, Hóc Môn,
Bà Điểm, An Phú Đông v.v... Do đó Ngài lại bị chính quyền
tỉnh Gia Định ra lệnh trục xuất khỏi địa phương này.
Ngài
phải di tản về chùa Hưng Long ở ngã sáu Chợ Lớn. Tiếp
tục sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh, Ngài vẫn thuyết pháp,
giảng kinh, viết sách báo. Tại đây Ngài đã cho xuất bản
hai quyển “Phật học tổng yếu” và “Phật học vấn đáp”.
Sau
bao ngày tháng vất vả, Ngài bị thọ bệnh, nằm liệt giường
ba năm. Tuy nhiên tinh thần vẫn sáng suốt, Ngài vẫn tiếp
tục viết sách, Ngài hoàn thành thêm một tác phẩm nữa là
quyển “Tại sao tôi cám ơn đạo Phật” và được nhà xuất
bản Nam Cường ấn hành năm 1933. Các sách của Ngài rất được
giới thanh niên, trí thức ưa thích, vì có những tư tưởng
mới, hợp thời.
Nhận
thấy các hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học, hội Lưỡng Xuyên
Phật Học các báo Pháp Âm, Từ Bi Âm, đều không đáp ứng
chủ trương và tư tưởng của mình, Ngài ra đi tìm hướng
khác. Nhưng đi tới đâu, Ngài cũng gặp những va chạm. Trở
về uất chí lại bị mật thám Pháp theo dõi nên Ngài rời
chùa Hưng Long trở về đời sống thường và hoạt động
cho Cách mạng ở vùng Gò Vấp, Phú Nhuận. Đó là thời gian
1934-1935.
Năm
1936, trở lại nếp sống tu hành Ngài xuống Rạch Giá gặp
Hòa thượng Trí Thiền, trú trì chùa Tam Bảo(4). Ngài và Hòa
thượng Trí Thiền đồng chí hướng khi cùng sinh hoạt trong
hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học ở chùa Linh Sơn, nên chuyến
đi này là để bàn việc thành lập một tổ chức Phật Giáo
thật sự tiến bộ. Kết quả hội Phật Học Kiêm Tế ra đời
ở Rạch Giá ngày 23-3-1937. Chùa Tam Bảo ở làng Vĩnh Thanh
Vân được chọn làm trụ sở, Hòa thượng Trí Thiền làm
Chánh tổng lý, riêng Ngài không giữ một chức vụ gì, chỉ
làm việc phía sau, nhằm tránh sự để ý của nhà cầm quyền
thực dân. Đầu năm 1938 Hội xuất bản tạp chí Tiến Hóa.
Ngài là cây bút đắc lực cho tờ báo. Những bài của Ngài
viết đều được ký bút hiệu Xích Liên.
Hội
Phật Học Kiêm Tế chủ trương hành động phù hợp với trào
lưu chính trị và Cách mạng đang sôi động khắp nơi vào
thời điểm đó. Cho nên sau khi Hòa thượng Trí Thiền tiếp
xúc với các đồng chí của ông Võ Hoành, một chiến sĩ Đông
Kinh Nghĩa Thục đang bị an trí tại Sa Đéc, thì chùa Tam Bảo
thực sự trở thành một căn cứ Cách mạng. Năm 1939, tại
đây đã bí mật tổ chức sản xuất vũ khí để đánh Pháp.
Việc bị bại lộ, thiền sư Trí Thiền và nhiều vị bị
bắt và bị đày ra Côn Đảo. Còn Ngài chạy thoát về Sài
Gòn, ẩn trốn tại vùng Bà Điểm - Hóc Môn.
Năm
1940, Ngài tham gia vào phong trào Nam Kỳ Khởi Nghĩa tại Hóc
Môn. Cuộc khởi nghĩa thất bại, Ngài lại phải trốn tránh.
Nhưng đến năm 1942, Ngài bị thực dân Pháp bắt đày Côn
Đảo. Ngài bị tra tấn đến bại xuội. Cách mạng tháng 8-1945
thành công, Ngài được đón về đất liền. Trở về Gò Công,
Ngài giữ chức Phó chủ tịch Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến
tỉnh Gò Công. Năm 1947, Ngài vào chiến khu tham gia kháng chiến
ở Quân khu 7. Năm 1948, Ngài về Quân khu 8 ở Đồng Tháp Mười
và năm 1949, về Quân khu 9 làm việc ở Ban Tuyên Huấn Trung
Ương Cục Miền Nam.
Sau
hiệp định Genève năm 1954, Ngài tập kết ra Bắc. Năm 1956,
Ngài được Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cử làm
chuyên gia qua Trung Quốc, phụ trách Trưởng Tiểu ban Phiên
dịch của Nhà xuất bản Ngoại văn ở Bắc Kinh.
Năm
1961, Ngài trở về nước, làm chuyên viên khoa triết học của
Ủy Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam ở Hà Nội. Năm 1965, Ngài
về hưu. Năm 1970, Ngài thọ bệnh. Đến ngày 06/7/1974, Ngài
viên tịch tại Hà Nội, thọ 76 tuổi đời, và được an táng
tại nghĩa trang Văn Điển. Năm 1993, chư Tăng và Phật tử
chùa Pháp Hoa ở Phú Nhuận đã cử đoàn đại biểu ra Hà
Nội bốc mộ Ngài, hỏa thiêu di cốt và đưa tro về tôn trí
tại chùa nhân ngày giỗ thứ 19 của Ngài.
Sự
nghiệp trước tác của Ngài còn để lại như sau:
- Phật
Hóa Tân Thanh Niên.
-
Phật Giáo Tổng Yếu.
-
Phật học Vấn đáp.
-
Tranh Biện.
-
Phật giáo và Vô thần luận.
-
Tôn Giáo.
-
Chân lý của Đại thừa và Tiểu thừa.
-
Tại sao tôi cám ơn đạo Phật.
-
Triết lý Đạo Phật (dịch kinh Lăng Nghiêm).
-
Cái thang Phật học.
-
Phật pháp là Phật Pháp.
-
Kinh Pháp Cú.
Nhìn
lại quá trình hoạt động của Ngài, chúng ta thấy rằng dù
gặp muôn ngàn khó khăn, nhưng Ngài vẫn mạnh dạn tiến bước
đấu tranh, vì độc lập tổ quốc và hạnh phúc nhân sinh.
Ngài sáng tác nhiều tác phẩm Phật giáo, vì muốn tư tưởng
trong sáng của chánh pháp hằng còn ở thế gian để lợi lạc
cho các thế hệ mai sau trên tiến trình giác ngộ giải thoát.
Chú
thích :
(1)
Có tài liệu nói là chùa Linh Tuyền (Nguyễn Lang VNPGSL III).
(2)
Chùa này đã bị Pháp đuổi lấy đất xây phi trường Tân
Sơn Nhất.
(3)
Ông Bảy Chấm nay là liệt sĩ. Hòa Thượng Đạo Thanh là vị
Khai Sơn trú trì chùa Pháp Hoa ở Phú Nhuận.
(4)
Có tài liệu ghi là chùa Kim Sơn, tên cũ của chùa Sắc Tứ
Tam Bảo.