HÒA
THƯỢNG
THÍCH
TỊNH KHIẾT
(1890
- 1973)
Hòa
thượng Thích Tịnh Khiết, thế danh là Nguyễn Văn Kỉnh, sinh
ngày 17 tháng 11 năm Tân Mão (1890), tại làng Dưỡng Mông Thượng,
huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Thân sinh là cụ ông Nguyễn
Văn Toán và cụ bà Tôn Nữ Thị Lý. Ngài là con trai thứ ba
trong gia đình, bẩm tính thông minh, năm 15 tuổi Ngài đã tinh
thông Nho học rõ lẽ xuất xứ ở đời, nhưng với chí khí
xuất trần, muốn vươn tới một phương trời cao rộng Ngài
đã xin phép song thân được xuất gia tầm sư học đạo.
Năm
1905, Ngài xuất gia tại chùa Tường Vân, làng Dương Xuân Hạ,
huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, và đã thọ giáo với
Đại lão Hòa thượng Thanh Thái, hiệu Phước Chỉ, là đệ
tam Tổ chùa Tường Vân, đời thứ 41 Thiền phái Lâm Tế.
Ngài được ban pháp danh là Trừng Thông, tự Chân Thường.
Với
bẩm tánh thuần thành, cốt cách đạo vị Ngài đã vượt
mọi thử thách cam go trong bước đầu hành đạo, tinh cần
học hỏi chánh pháp với các bậc thạc đức cao Tăng trong
chốn thiền môn, chuyên tâm thực hành giới định tuệ. Đến
năm 19 tuổi (1910), đạo phong ngày càng tỏa rạng, Ngài được
đặc cách miễn tuổi để thọ Cụ Túc giới tại Đại giới
đàn Vĩnh Gia do tổ Vĩnh Gia làm Đàn Đầu, Hòa thượng Tâm
Truyền làm Yết Ma và Hòa Thượng Hoàng Phú làm Giáo Thọ.
Sau khi đắc giới Cụ Túc, Ngài trở về trú xứ phát nguyện
lạy bộ Vạn Phật, mỗi chữ mỗi lễ, trong suốt ba năm liền.
Năm
26 tuổi (1916), Ngài nhận chức trú trì chùa Phước Huệ, thuộc
phủ Tuy Lý Vương, thôn Vỹ Dạ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa
Thiên.
Đến
năm 30 tuổi (1920) ngài đắc pháp với Hòa thượng Bổn sư,
được ban Đạo hiệu là Tịnh Khiết, kế vị Tổ đời thứ
42 thuộc Thiền phái Lâm Tế với bài kệ phú pháp như sau:
“Trừng
Thông tâm pháp bản đồng nhiên.
Phó
nhữ Chân Thường đạo chí kiên.
Phi
hữu phi vô phi sở kiến.
Tịch
nhiên khai ngộ chủ nhơn tiền".
Năm
32 tuổi (1922), sau khi cư tang nghiệp sư, Ngài cùng Hòa thượng
Huệ Pháp theo học lớp Cao đẳng Phật học tại chùa Thiện
Hưng, tham cứu kinh điển cùng Ngài Phước Huệ, chùa Thập
Tháp trong suốt thời gian năm năm.
Năm
42 tuổi Ngài làm dẫn thỉnh sư tại Đại giới đàn chùa
Từ Hiếu.
Năm
44 tuổi Ngài trở về trú trì chùa Tường Vân, kế vị Hòa
Thượng Tịnh Hạnh, anh ruột của Ngài vừa viên tịch.
Năm
1935, một lớp Trung Đẳng Phật Học được mở tại chùa
Tường Vân dưới sự trông nom của Ngài.
Năm
48 tuổi (1938), Ngài được cung thỉnh Chứng minh Đạo sư sáng
lập AN NAM PHẬT HỌC HỘI.
Năm
50 tuổi (1940), Ngài làm Giám đốc đạo hạnh Viện Cao đẳng
Phật học, mở tại chùa Tường Vân và Báo Quốc, nơi đào
tạo nhiều Tăng tài, lỗi lạc xuất chúng lãnh đạo Giáo
hội qua nhiều thế hệ như Hòa thượng Thiện Hoa, Thiện Hòa,
Hành Trụ, Trí Tịnh, Thiện Siêu...
Năm
54 tuổi (1944), Ngài được cung thỉnh, làm Yết Ma Đại giới
đàn tại chùa Thuyền Tôn, Huế.
Năm
57 tuổi (1947), Ngài được suy tôn chức vụ Tòng Lâm Pháp
Chủ Trung Việt.
Năm
58 tuổi (1948), Ngài làm Đàn đầu Hòa thượng Đại giới
đàn mở tại chùa Báo Quốc, Huế. Hòa thượng Thiện Siêu
là thủ Sa di trong Đại giới đàn này.
Ngày
06.5.1951, năm mươi mốt đại biểu của sáu hội Phật giáo
Nam, Trung, Bắc họp tại chùa Từ Đàm, Huế quyết nghị thành
lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, Ngài được suy tôn Hội
chủ. Đến ngày 7-9-1952, Ngài được bầu làm chủ tọa Đại
Hội Phật Giáo Tăng Già toàn quốc họp tại chùa Quán Sứ,
Hà Nội.
Vào
ngày 8.3.1953, Ngài vào miền Nam chủ tọa lễ suy tôn Hòa thượng
Huệ Quang làm Pháp Chủ Giáo Hội Tăng Già Nam Việt tại chùa
Ấn Quang, Sài Gòn.
Năm
66 tuổi (1956), Ngài cùng với Hòa thượng Huệ Quang lãnh đạo
phái đoàn Phật giáo Việt Nam tham dự Đại Hội Phật Giáo
Thế Giới tổ chức tại Tích Lan, và chiêm bái Phật Tích
tại Ấn Độ.
Ngày
20-2-1962, Ngài đã ký cùng lúc hai văn thư gởi Tổng Thống
Ngô Đình Diệm và Quốc Hội để phản đối chính sách kỳ
thị tôn giáo, kêu gọi Tăng tín đồ đoàn kết nhất trí
và cùng với chư Tôn đức khác lãnh đạo cuộc đấu tranh
lịch sử này.
Năm
73 tuổi (1963), Ngài tiếp tục lãnh đạo cuộc đấu tranh bảo
vệ tín ngưỡng, phản đối chính sách kỳ thị Phật giáo
của chính quyền Ngô Đình Diệm. Trong cuộc đấu tranh ngày
20-8-1963, Ngài cũng chịu chung số phận với Phật giáo đồ
bị đàn áp đến phải mang thương tích ngay dưới chân tòa
sen khi nén hương tâm nguyện còn đang cháy dở. Sau đó, Ngài
bị quản thúc và chịu nhiều áp lực chính trị tâm lý, Ngài
vẫn kiên tâm vững chí, và cuộc đấu tranh bất bạo động
và đầy gian khổ này đã kết thúc thành công vào cuối năm
1963, khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị sụp đổ.
Năm
74 tuổi (1964), Đại hội Phật giáo Việt Nam suy tôn Ngài lên
ngôi vị Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
Cùng
năm 1964, Ngài làm Đàn đầu Hòa thượng Đại giới đàn tổ
chức tại Việt Nam Quốc Tự, Sài Gòn.
Năm
78 tuổi (1968) làm Đàn đầu Hòa thượng Đại giới đàn tổ
chức tại Phật Học Viện Hải Đức, Nha Trang.
Với
ngôi vị Tăng Thống, Ngài đã vận dụng phương châm lấy
“Từ bi xóa bỏ hận thù” để nói lên tiếng nói đích
thực của người Phật tử đối với đất nước và nhân
loại. Ngài truyền thừa một sứ mệnh cao cả mà chư Tổ
tiền bối đã khéo léo vận dụng để hòa nhập và tồn tại
với dân tộc qua những chặng đường lịch sử.
Pháp
âm của Ngài hãy còn vang vọng qua nhiều bức thông điệp
thể hiện đường lối hòa bình của Tăng tín đồ Phật tử
Việt Nam, đặc biệt là bức thông điệp gởi Đại hội Quốc
tế về Tôn giáo và Hòa Bình vào tháng 10-1970, trong đó nguyện
vọng tha thiết mong mỏi hòa bình của dân tộc Việt Nam được
thể hiện qua việc kiến nghị nhiều phương thức giải quyết
chiến tranh và củng cố hòa bình.
Về
quan điểm xây dựng đất nước, Ngài kêu gọi giữ gìn bản
sắc văn hóa dân tộc, đoàn kết không chia rẽ tôn giáo đảng
phái, tập trung vào công cuộc xây dựng bảo vệ dân tộc
và đất nước, đó cũng chính là bảo vệ lý tưởng của
mình.
Đối
với Tăng Ni và tầng lớp Phật tử trẻ, nhất là những vị
sơ cơ trực diện với công tác xã hội, Ngài không ngừng
khuyên nhủ hãy giữ gìn sơ tâm, nghiêm trì giới hạnh, giữ
lấy phương châm “Tùy duyên bất biến” và khuyên đừng
bao giờ lợi dụng tuổi trẻ, chức phận, dễ dãi với bản
thân mà làm những chuyện phương hại đến đạo pháp.
Cuối
năm 1972, Ngài rời Sài gòn về Huế để tiến hành việc tu
sửa Tổ đình Tường Vân và chú đại hồng chung, rồi đi
thăm viếng các Tổ đình và các vị Trưởng lão tại cố
đô như là chuẩn bị cho một hành trình khác.
Sau
vài ngày pháp thể khiếm an như có linh cảm về sự ra đi
của mình, Ngài ân cần phó chúc cho Tăng Ni, Phật tử những
lời di huấn tối hậu và Ngài đã an tường xả bỏ báo thân
vào hồi 20 giờ 45 phút ngày 23 tháng giêng năm Quý Sửu (25-2-1973),
trụ thế 83 năm, 64 hạ lạp. Tháp của Ngài an trú tại Tổ
đình Tường Vân, hiệu là Thanh Trai.
Ngài
đã thể nhập vào Niết bàn Tịnh lạc, nhưng đạo phong của
Ngài vẫn tồn tại với non sông đất nước và trong lòng
người con Phật.