HÒA
THƯỢNG
THÍCH
MẬT NGUYỆN
(1911
- 1972)
Hòa
thượng thế danh là Trần Quốc Lộc, pháp danh Tâm Như, pháp
hiệu Thích Mật Nguyện, thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 43.
Ngài sinh ngày 25 tháng 6 nhuận năm Tân Hợi (19-8-1911) tại
làng Phú Xuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên và là con
trưởng trong một gia đình năm anh em. Thân phụ là cụ ông
Trần Quốc Lễ. Thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Hoàng.
Thiếu
thời Ngài theo tân học, bản tính hiền hòa vui vẻ. Vốn sinh
trưởng trong một gia đình nề nếp, thành tín Phật giáo,
Ngài đã sớm cảm nhận cảnh thế phù hoa giả tạm. Năm 1926
(15 tuổi) Ngài phát tâm xuất gia, thọ giới với Hòa thượng
Giác Tiên ở chùa Trúc Lâm - Thừa Thiên. Nhờ chuyên tâm và
kiên trì tu niệm, Ngài đã được Bổn sư chính thức làm
lễ thế độ thọ Sa Di giới lúc 18 tuổi (1929), pháp danh là
Tâm Như.
Sau
một thời gian tinh tấn tu học tại trường Sơn môn Phật
học Tây Thiên, Ngài đã tốt nghiệp cấp Trung học Phật giáo.
Năm 1937 (26 tuổi) Ngài được Bổn sư cho vào Bình Định thọ
giới Tỳ Kheo tại Đại giới đàn Tịnh Lâm và ở lại theo
học cấp Đại học Phật giáo với Hòa thượng Phước Huệ
tại chùa Thập Tháp.
Khi
còn tu học ở Huế, vào năm 1932, Hội An Nam Phật Học thành
lập tại chùa Trúc Lâm, Ngài được cử làm giảng sư của
hội. Năm 1935, do đạo nghiệp tăng trưởng, Ngài đã được
Bổn sư phú pháp một bài kệ như sau:
Tâm
như Pháp giới như
Vô
sanh hạnh đẳng từ
Nhược
năng như thị giải
Niệm
niệm chứng vô dư.
Năm
1946, Ngài khai sơn chùa Bảo Tràng Huệ Giác tại Hòa Tân, Bình
Định. Chùa này đã bị chiến tranh phá hủy hoàn toàn. Trở
về Thừa Thiên, Ngài được Sơn môn cung thỉnh trú trì chùa
Linh Quang ngày 10-4-1946 (được 35 tuổi). Đầu năm 1951 Ngài
đảm trách chức vụ Chánh Trị sự Sơn môn Tăng già Thừa
Thiên, và cuối năm ấy lại được mời làm giảng sư tại
Phật học đường Báo Quốc. Năm 1954 Ngài được cử giữ
chức Trị sự trưởng Sơn môn Tăng Già Trung Việt liên tiếp
trong nhiều nhiệm kỳ.
Năm
1957 với ý nguyện phát triển cơ sở để dìu dắt hàng Phật
tử về với đạo pháp, Ngài khai sáng chùa Từ Hàng Quan Âm
tại quận Nam Hòa, một vùng cận sơn thuộc tỉnh Thừa Thiên.
Chùa này hiện vẫn còn. Ngày 10-9-1959 Đại hội Giáo hội
Tăng già toàn quốc kỳ II tại chùa Ấn Quang ở Sài Gòn đã
công cử Ngài giữ chức vụ Trị sự phó Giáo Hội kiêm Trưởng
Ban Nghi Lễ.
Năm
1960, nhận thấy Phật sự ngày càng nhiều, Phật tử lui tới
ngày càng đông, mà chùa Linh Quang quá chật hẹp, Ngài đã
khởi xướng việc trùng tu chùa và đạt kết quả tốt đẹp.
Năm
1963 Ngài đã lãnh đạo Phật giáo đồ Thừa Thiên - Huế đấu
tranh đòi thực thi năm nguyện vọng chính đáng của Phật
giáo Việt Nam. Trong đêm 20-8-1963 chính quyền Ngô Đình Diệm
xua quân tấn công các chùa, đàn áp Tăng Ni, Phật tử, Ngài
bị bắt và áp chuyển vào Sài Gòn cùng với một số Tôn
đức khác trong hàng lãnh đạo.
Năm
1964, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời, Ngài
được mời giữ chức Phó Đại diện miền Vạn Hạnh kiêm
Tỉnh Giáo Hội Thừa Thiên. Năm 1965 Ngài làm đàn chủ trong
Đại giới đàn Vạn Hạnh tổ chức tại chùa Từ Hiếu -
Huế với trên 100 vị giới tử xuất gia và 1.200 vị tại
gia. Cũng năm này, Ngài được mời vào Ban giảng huấn viện
Cao Đẳng Phật Học Sài Gòn. Ngài rất chú tâm vào việc đào
tạo Tăng tài, nên năm 1967 Ngài đứng ra tổ chức lớp chuyên
khoa nội điển Liễu Quán tại chùa Linh Quang. Ngài làm Giám
đốc và chủ giảng lớp học này liên tiếp trong 4 năm.
Mùa
xuân 1968 Ngài được Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
công cử vào chức vụ Chánh Đại Diện miền Vạn Hạnh kiêm
Chánh Đại Diện tỉnh Thừa Thiên và thị xã Huế. Năm 1970,
Ngài khuyến khích mở lớp chuyên khoa nội điển tại Phật
Học Ni Viện Diệu Đức - Huế. Cũng năm ấy, Ngài nhận làm
cố vấn Đại giới đàn Vĩnh Gia tại Đà Nẵng.
Trách
nhiệm nặng nề của cấp lãnh đạo Giáo hội tại miền Vạn
Hạnh và tỉnh Thừa Thiên - Huế đã chiếm nhiều thì giờ
và sức lực của Ngài trong việc đối nội và đối ngoại.
Nhưng Ngài vẫn không quên công tác xã hội, từ thiện. Ngài
đã kiến thiết cô nhi viện, dưỡng lão đường, bệnh xá
để có nơi an trú và thuốc men cho những đồng bào không
may gặp cảnh khó khăn, đau khổ. Ngài còn khuyến khích xây
dựng những Niệm Phật Đường tại các bệnh viện, lao xá,
các trại tàn tật, các đơn vị quân đội để những nơi
này Phật tử có thể thường xuyên tụng niệm và lễ bái.
Ngài đặc biệt lo việc cứu trợ chiến nạn và thiên tai.
Ngài còn khuyến khích các nhà thiện nguyện tạc tượng, đúc
chuông, ấn tống kinh sách và lưu động đến các vùng xa xôi
mở các buổi thuyết giảng giáo lý.
Ngoài
ra, Ngài còn để tâm viết bài đăng trên các nguyệt san tạp
chí Phật giáo xuất bản tại Huế như Viên Âm, Giác Ngộ,
Liên Hoa v.v... để phổ biến giáo lý, hướng dẫn bao người
quay về với chánh pháp để chung lo việc phục hưng và bồi
đắp cho nền đạo giáo của dân tộc ngày một phát triển.
Ngài còn dịch các kinh tạng như kinh Giải Thâm Mật, kinh Vô
Lượng Thọ, Tân Duy Thức Luận (của Thái Hư).
Vì
lao tâm lao lực lo toan Phật sự, nên vào cuối đời Ngài lâm
bệnh, có thời gian phải vào Sài Gòn điều trị. Tuy vậy
Ngài vẫn luôn luôn nghĩ đến Giáo Hội và Phật tử, xem nhẹ
thân mình, đã tạm gác việc chữa bệnh và trở về cố đô
tiếp tục Phật sự. Đến ngày mồng 10 tháng 7 năm Nhâm Tý,
Phật lịch 2516 (18-8-1972) vào lúc 9 giờ 30' Ngài đã viên tịch,
hưởng thọ 62 tuổi đời, với 40 tuổi hạ.
Hòa
thượng Thích Mật Nguyện là một cột trụ quan trọng trong
ngôi nhà Phật pháp, một vị hộ pháp đắc lực của Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam trong những ngày đầu của phong trào
phục hưng, một thành viên cơ yếu của Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất. Với đức hy sinh cao cả, Ngài đã vượt
qua mọi khó khăn để gánh vác những Phật sự lớn lao. Nhờ
ý chí bền vững, cùng tâm hồn hỉ xả, vị tha, Ngài đã
khéo nhẫn nhục, dung hòa mọi dị kiến để hòa đồng với
mọi tầng lớp trong Tăng giới cũng như hàng cư sĩ để hoàn
thành sứ mạng “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”
của một Như Lai sứ giả.