HÒA
THƯỢNG
THÍCH
BÍCH LÂM
(1924
- 1971)
Hòa
thượng họ Trần, húy Văn Vinh, pháp danh Chơn Phú, tự Chánh
Hữu, hiệu Thích Bích Lâm. Ngài sinh ngày 24 tháng 11 năm Giáp
Tý (1924) tại phường Đệ Nhị- Nha Trang- Khánh Hòa, thân phụ
là cụ Trần Đức Tựu, thân mẫu là cụ bà Trần Thị Đủ.
Sớm
có nhân duyên với Phật pháp, Ngài được Hòa thượng Thích
Phước Huệ, chùa Sắc Tứ Hải Đức cho quy y ngày 19 tháng
2 năm Nhâm Thân (1932), pháp danh Chơn Phú. Đến ngày 15 tháng
10 năm Kỷ Mão (1939), Ngài được Hòa thượng cho thế độ,
phú pháp tự là Chánh Hữu, hiệu Bích Lâm. Năm 1945, Ngài thọ
Tam đàn Cụ Túc tại chùa Sắc Tứ Hải Đức do Hòa thượng
Phước Huệ tái thí, truyền trao giới pháp. Năm 1946 Ngài được
đề cử trụ trì Tổ đình Nghĩa Phương.
Năm
Nhâm Thìn (1952) tại Đại giới đàn Tổ đình Thiên Bửu ở
Ninh Hòa, Ngài nhận làm Tôn chứng sư. Đến năm Đinh Dậu
(1957) tại Đại giới đàn Tổ đình Nghĩa Phương, Ngài làm
Giáo thọ A Xà Lê. Sang năm Kỷ Hợi (1959), Ban đại diện Giáo
Hội Phật Giáo Cổ truyền miền Trung tổ chức Đại giới
đàn tại Tăng học viện (chùa Phước Huệ- Nha Trang), đại
chúng suy tôn Ngài làm Đường đầu Hòa thượng truyền giới.
Năm
Canh Tuất (1970), Ngài được cung thỉnh ngôi Đường đầu
Hòa thượng tái thí truyền giới tại Đại Giới đàn chùa
Phước Duyên, Diên Khánh, Khánh Hòa. Với đức tính hiền hòa
được các môn đồ đệ tử kính phục, chư sơn hiền đức
mến thương nên giao cho Ngài đảm nhiệm nhiều Phật sự như
sau:
- Từ
năm 1950 đến 1954: Ngài làm Tổng Thư ký Giáo Hội Tăng Già
Cổ Truyền tỉnh Khánh Hòa.
- Từ
năm 1955 đến 1959: Là Tăng giám Trung Việt Giáo Hội Phật
Giáo Tịnh Độ Tông Việt nam.
- Từ
năm 1960 đến 1968: Ngài đảm nhiệm chức vụ Chánh Đại diện
Trung phần kiêm Giám đốc Tăng học viện Giáo Hội Phật Giáo
Cổ Truyền (Lục Hòa Tăng) miền Trung.
- Từ
năm 1969 đến 1971: Kiêm nhiệm chức vụ Phó Viện Trưởng
Nội Vụ Viện Hoằng Đạo Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo
Cổ Truyền Việt Nam.
Ngài
đã thay mặt Ban đại diện Giáo Hội Phật Giáo Cổ Truyền
miền Trung đi tham quan, thăm viếng thân hữu Phật giáo các
nước: Thái Lan, Nhật Bản, Hồng Kông, Đại Hàn v.v... Đồng
thời muốn có người thừa kế sự nghiệp đạo pháp nên
Ngài đã cho hai đệ tử là Thượng tọa Thích Trí Tâm, Thích
Trí Đức đi đu học tại Nhật Bản.
Ngài
đã trùng tu ngôi Tam bảo Nghĩa Phương, từ ngôi chùa nhỏ
bé thành ngôi Già Lam Bửu Điện ngày nay và đã khai sơn, trùng
tu trên hai mươi ngôi tự viện tại Khánh Hòa cùng các tỉnh
miền Trung.
Thế
gian vô thường, có sinh ắt có diệt. Trải qua bao năm tài
bồi công đức nền móng Thích gia, dắt dẫn chúng nhơn gần
xa tu học, Ngài viên tịch ngày 24 tháng 11 năm Tân Hợi (1971),
trụ thế 48 tuổi, 26 hạ lạp, để lại tang chung cho môn đồ
đệ tử cùng sự luyến tiếc của Tăng Ni, Phật tử đối
với một bậc Tôn đức Tăng tài sớm chuyển nghiệp trần
giữa lúc tinh hoa đang phát chất.