HÒA
THƯỢNG
THÍCH
MINH ĐỨC
(1902
- 1971)
Hòa
thượng Thích Minh Đức, thế danh Lê Minh Chánh, sinh ngày mùng
1 tháng 6 năm Nhâm Dần (1902) tại xã Phú Đức, huyện Châu
Thành, tỉnh Định Tường (nay là Tiền Giang). Ngài sinh trong
gia đình thấm nhuần Nho giáo, hiểu thông y lý, và có lòng
kính tin Phật giáo. Năm 12 tuổi, Ngài theo cụ thân sinh là
Lê Minh, pháp hiệu Như Lan, tự Hoằng Quang, học đạo nơi
chùa Long Định, Trà Đãnh, huyện Tri Tôn, tỉnh Long Xuyên.
Năm
Mậu Thìn (1928) khi thân phụ qua đời, Ngài tiếp tục nghề
y dược của cha để tế độ quần sanh. Năm này, Ngài vừa
29 tuổi, đã ý thức được những gì là chân thực, huyễn
tạm mà kinh Phật đã phân định. Do đó, Ngài chuyển thỉnh
mẫu thân vào chùa Long Định (nơi người anh Ngài là Yết
Ma Pháp Khánh đang trụ trì tại đó) để an dưỡng và tu học.
Năm Quý Dậu (1933) khi mẹ qua đời, Ngài đã thực sự bước
vào đường tu học bằng hình thức một người xuất gia.
Năm
Giáp Tuất (1934), 32 tuổi, Ngài xin phép sư huynh lên đường
tầm sư học đạo. Trước những biến động thời cuộc,
Ngài tìm đến chùa Thiên Thai (núi Dinh - Bà Rịa) thọ giáo
với Tổ Huệ Đăng. Nơi Tổ đứng ra thành lập Thiên Thai
Thiền Giáo Tông Liên Hữu Hội năm 1935 có tạp chí Bát Nhã
Âm làm cơ quan ngôn luận ... đang náo nức hoạt động và
danh tiếng lan xa.
Sau
khi được Tổ Huệ Đăng nhận làm đệ tử mới, và đặt
cho đạo hiệu Thiện Mẫn, Ngài ở lại đây tu học. Cuối
năm ấy Ngài được Tổ cho thọ tam đàn Cụ Túc giới tại
giới đàn chùa Phước Hậu (thị xã Long Xuyên). Giới đàn
này do chính Tổ Huệ Đăng chứng minh, Ngài Yết Ma Pháp Cự
làm Đường đầu Hòa thượng.
Năm
Bính Tý (1936), Ngài tham dự khóa hạ tại Tổ đình Long Hòa
(Bà Rịa). Lúc mãn hạ có đàn thí giới, Tổ Huệ Đăng chứng
minh, Yết Ma Minh Tâm làm Đường đầu Hòa thượng, Ngài được
cử làm Đệ nhất tôn chứng.
Năm
Đinh Sửu (1937), Ngài tham dự khóa hạ tại chùa Giác Hoàng
(Cần Thơ), nhận chức Phó na. Cùng năm này, tại chùa Thiên
Long (Biên Hòa) khai đàn thí giới, chư sơn tôn Ngài làm Giáo
Thọ.
Năm
Mậu Dần (1938), chùa Thanh Lương (Biên Hòa) khai đàn thí giới,
Ngài được suy cử Yết Ma A Xà Lê. Từ giới đàn này, Tổ
Huệ Đăng nhận thấy sự tu hành của Ngài càng tăng trưởng,
có thể ích lợi cho đạo mạch mai sau. Do đó Tổ đặt cho
Ngài pháp hiệu Minh Đức.
Năm
Kỷ Mẹo (1939), Ngài được bổ xứ trụ trì chùa Hoa Nghiêm
(Cần Giuộc), nơi đây Ngài đã cất một thảo am để hằng
năm nhập thất an cư.
Năm
Quý Mùi (1943), Hương chức xã Tân Thới Nhứt ngưỡng mộ
danh đức nên thỉnh Ngài về trụ trì chùa Giác Hoàng (Bà
Điểm). Tại đây ngoài việc hằng năm tiếp tục kiết thất
an cư, Ngài còn tiếp Tăng độ chúng, xây dựng một giảng
đường và nhà Đông nhà Tây để có nơi cho Tăng chúng tu
học. Do hoạt động tích cực của Ngài, chùa Giác Hoàng trở
thành cơ sở quan trọng của phong trào chấn hưng Phật giáo;
các Ngài Pháp Linh, Thiện Chiếu, Hoằng Không, Long Quang thường
xuyên hội họp tại đây. Bên cạnh việc hoằng đạo Ngài
còn biến nơi đây thành nơi gặp gỡ của không ít cán bộ
Cách Mạng, trong đó có cụ Phạm Văn Đồng. Do đó khi Cách
mạng tháng 8-1945 bùng nổ chùa Giác Hoàng là nơi hậu cứ
quan trọng.
Năm
Đinh Hợi (1947), vâng lệnh Hòa thượng Tam Không (Thích Minh
Nguyệt) - Hội trưởng Hội Phật giáo Cứu quốc Nam bộ, Ngài
xuống vùng Chợ Lớn dựng thảo am để vận động quần chúng
ủng hộ kháng chiến. Chọn Bến Hàm Tử là nơi gần chợ
và nhiều dân cư lao động, đồng thời có nhiều tệ nạn
xã hội nhất, Ngài dựng một ngôi chùa nhỏ đặt tên Tăng
Phường, hiệu Giác Hoàng để thực hiện nhiệm vụ được
giao đồng thời khuyến hóa quần chúng tu tập. Riêng Ngài
hàng năm tại đây, vào mùa kiết hạ, tháng giêng và tháng
chín Ngài chuyên tu “Chuẩn Đề ngũ hối sám nghi”. Đây
là phương pháp tu mà Ngài cho là chóng đạt được Phật lực
cần thiết để cảm hóa người khác.
Năm
Canh Dần (1950), Ngài lên núi Chứa Chan kiết hạ 3 tháng trong
Thạch Động.
Năm
Tân Mẹo (1951), Ngài được suy cử Đường đầu Hòa thượng
nhân mùa kiết hạ tổ chức tại chùa Long An đường Nguyễn
Văn Cừ quận 10, thành phố Hồ Chí Minh ngày nay.
Năm
Nhâm Thìn (1952), chùa Giác Hoàng (Tăng Phường) ở Bến Hàm
Tử chịu chung số phận bị hỏa tai với bà con chung quanh.
Ngài quyết tâm xây lại ngôi chùa khác lớn hơn, không xa nền
chùa cũ bao nhiêu. Đó là chùa Thiên Tôn (ở số 117/9 đường
An Bình phường 13, quận 5 ngày nay). Công trình mãi đến năm
Giáp Ngọ (1954) mới hoàn thành. Phòng thuốc từ thiện được
Ngài mở ra ngay tại chùa sau khi xây cất xong.
Năm
Ất Mùi (1955), Ngài về thăm lại quê xưa tại núi Nan Di, xã
An Hão, huyện Tri Tôn, tỉnh Long Xuyên, nơi mà thuở ấu thơ
Ngài đã xuất gia. Do chiến tranh tàn phá, chùa Long Định không
còn, Ngài được cư dân chung quanh hỗ trợ chặt phá cỏ cây
để sau đó xây lại ngôi Tổ đình Long Định đầy kỷ niệm
này. Khi hoàn thành, Ngài cho tiếp độ Tăng chúng về tu học,
xây Tháp cho Tôn sư và lập Bảo đồng cho cố mẫu.
Cũng
trong thời gian này, do ảnh hưởng tình hình chung, Ngài được
mời tham gia thành lập Giáo Hội Lục Hòa Tăng cùng với các
Hòa thượng Thiện Tòng, Thành Đạo, Pháp Nhạc...
Mùa
an cư năm Bính Thân (1956), Ngài làm Thiền chủ Giáo Hội Lục
Hòa Tăng, trực tiếp đưa Giáo Hội vào các cao trào đấu
tranh của nhân dân. Từ đây cho đến năm Kỷ Hợi (1959), nhiều
cơ sở cách mạng nội thành bị lộ, các hoạt động đấu
tranh của các Hòa thượng cũng bị ảnh hưởng. Sau các Hòa
thượng đứng đầu Giáo Hội bị bắt, các hoạt động của
Giáo Hội này cũng ngưng hoạt động cùng lúc với Trường
Phật Học Đức Hòa, tạp chí Phật Học, nhà in đều bị
đóng cửa... Những biến động này xảy ra và liên quan đến
chùa Thiên Tôn, nơi tiếp xúc, hội họp của các cán bộ Trung
ương và Thành ủy Sài Gòn.
Năm
Canh Tý (1960) sau khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam
Việt Nam ra đời, Ngài trở về chùa Thiên Tôn tập hợp các
vị còn lại, khôi phục lại các hoạt động Giáo Hội từ
nhiều cấp .
Năm
Kỷ Dậu (1969), hai Giáo Hội Lục Hòa Tăng và Lục Hòa Phật
Tử hợp thành Giáo Hội Phật Giáo Cổ Truyền, để huy động
lực lượng đảm nhiệm vai trò mới. Ngài được cử làm
Phó Chủ tịch Hội đồng Chỉ đạo Trung ương kiêm Viện
trưởng Viện Hoằng Đạo.
Cùng
năm này, tại chùa Thiên Tôn, Ngài mở ra Phật học viện Minh
Đức và tổ chức Đại hội thành lập Tổng Đoàn Thanh Niên
Tăng Ni. Trụ sở được đặt tại chùa này cho đến năm 1975.
Tổng đoàn này trực thuộc Giáo Hội Phật Giáo Cổ Truyền,
có nhiệm vụ “chống Mỹ cứu nước”. Sau đó, Ngài còn
mua đất xây dựng nên ngôi chùa Địa Tạng tại xã Tân Xuân,
huyện Hóc Môn.
Năm
Tân Hợi (1971) tuổi cao sức yếu, nhiệm vụ với nước và
bổn nguyện độ sanh của Ngài đã viên mãn, Ngài thâu thần
thị tịch ngày 8 tháng 7 năm 1971 (nhằm 16 tháng 5 năm Tân Hợi),
hưởng thọ 70 tuổi, được 28 hạ lạp.