HÒA
THƯỢNG
THÍCH
HUỆ CHIẾU
(1895
- 1970)
Hòa
thượng họ Nguyễn, pháp hiệu là Huệ Chiếu, sanh ngày rằm
tháng ba năm Ất Mùi (1895) tại ấp Vĩnh Lộc, xã Bình Hòa,
quận Bình Khê, nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Thân
phụ là ông Nguyễn Chơn Phước, thân mẫu là bà Đặng Thị
Nhu.
Xuất
thân trong một gia đình kính tín Tam Bảo, nên từ nhỏ Ngài
thường lui tới chốn Thiền môn để học tập và nghe pháp,
được Hòa thượng Trừng Tâm trụ trì chùa Vĩnh Lộc (gần
nhà của Ngài) dạy bảo những phẩm hạnh cơ bản của người
xuất gia.
Đến
năm 25 tuổi (Kỷ Mùi - 1919), Ngài mới cầu pháp chính thức
với Chánh Nhơn Hòa thượng tại chùa Long Khánh - Qui Nhơn và
được trao truyền pháp danh là Tâm Tịnh, tự Giải Thoát,
hiệu Huệ Chiếu. Cũng trong năm ấy, Ngài thọ Tỳ Kheo Bồ
Tát giới với Hòa thượng Chí Hưng chùa Khánh Lâm, tỉnh Bình
Định. Sau khi đắc giới, Ngài y chỉ với Phổ Huệ Pháp sư
để học luật.
Đến
năm Nhâm Tuất (1922) chùa Hưng Long, Bình Định khuyết vị
trú trì nên Hòa thượng Bổn sư bổ dụng Ngài về đó làm
trú trì. Kinh tế của chùa rất eo hẹp nhưng Ngài vẫn chu
toàn trách nhiệm tiếp Tăng độ chúng suốt thời gian Ngài
trụ trì.
Năm
Ất Sửu (1925), Ngài làm thư ký tại trường Hương chùa Phước
Quang tỉnh Quảng Ngãi và được Tăng chúng thỉnh làm Giáo
thọ.
Sau
đó Ngài vào Nam hóa độ, thiện nam tín nữ qui ngưỡng rất
đông, nhưng năm Đinh Mão (1927) Hòa thượng Bổn sư gọi Ngài
về làm Hóa chủ tổ chức trường Hương (Tăng chúng có đến
trên tám mươi vị) tại chùa Long Khánh, Qui Nhơn.
Năm
Kỷ Tỵ (1929), Ngài được Hòa thượng Chơn Niệm chùa Trùng
Khánh tỉnh Ninh Thuận thỉnh làm Thiền chủ cho trường Hương
để lãnh chúng tu học trong ba tháng. Mãn hạ, trường Hương
mở giới đàn và thỉnh Ngài làm Yết ma A Xà Lê.
Năm
sau, 1930 Ngài cùng với Hòa thượng Trùng Khánh vào chùa Hiển
Long, tỉnh Vĩnh Long (Nam phần) mở lớp gia giáo trong hai năm
do Ngài làm chủ giảng, chúng Tăng học tập trên bốn mươi
vị. Sau đó Ngài trở về Bình Định.
Năm
Tân Mùi (1931), Ngài lo việc đại trùng tu chùa Hưng Long, Bình
Định. Năm Nhâm Thân (1932), Ngài cung thỉnh chư sơn và triệu
tập tín đồ thành lập Hội An Nam Phật Học. Ngài là một
sáng lập viên của Hội Phật Học tại tỉnh Bình Định.
Sau đó vì chưa có Hội quán nên Ngài đã cổ động kiến
thiết ngôi tiền đường tại chùa Long Khánh để làm trụ
sở sinh hoạt của hội.
Năm
Giáp Tuất (1934), Ngài cùng Bổn sư vận động mở Phật học
đường tại chùa Long Khánh, Qui Nhơn và thỉnh Quốc sư Phước
Huệ làm chủ giảng, chúng Tăng Trung Nam tham học trên năm
mươi vị.
Năm
Đinh Sửu (1937), chùa Thiên Đức ở Bình Định khuyết vị
trú trì, chư sơn cung thỉnh Ngài về trú trì chùa ấy. Chùa
cũ kỹ đổ nát quá nhiều nên năm sau (1938 - Mậu Dần), Ngài
mở cuộc lạc quyên đại trùng tu ngôi Tổ đình Thiên Đức.
Sau đó Ngài lại trở về trùng tu chùa Vĩnh Lộc (Bình Khê,
Bình Định) là nơi sanh trưởng của Ngài.
Năm
Kỷ Mão (1939), Ngài thừa lệnh Hòa thượng Bổn sư ra kiến
tạo lại chùa Long Quang thuộc thôn Phú Ốc, tỉnh Thừa Thiên
do chính Bổn sư Ngài tức Hòa thượng Chánh Nhơn khai sơn.
Năm
Nhâm Ngọ, (1942), Ngài tổ chức Đại giới đàn tại chùa
Thiên Đức và được chúng Tăng cung thỉnh Ngài làm Đàn đầu
thí giới, giới tử thọ Tỳ Kheo có đến trên một trăm vị.
Năm
Quí Mùi (1943), Thượng tọa Giác Tánh mở lớp gia giáo tại
chùa Hưng Long và cung thỉnh Ngài làm Chứng minh Đạo sư.
Năm
Ất Dậu (1945), trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, Ngài
được cử làm Chủ tịch đoàn Phật giáo Cứu quốc do thanh
niên Tăng Bình Định tổ chức.
Dù
tình thế an hay nguy, Ngài không lúc nào quên việc đào tạo
Tăng tài cho tương lai Phật pháp. Cho nên cũng trong năm ấy,
Ngài triệu tập thanh niên Tăng mở Phật Học Đường tại
chùa Thiên Đức và mời các Thượng Tọa Huệ Phước, Giác
Tánh, Tâm Hoàn, Huyền Quang v.v... giảng dạy. Sau vì nhơn duyên
khác, Phật Học Đường này đã được dời về chùa Thập
Tháp.
Năm
Đinh Hợi (1947), Ngài đại diện cho Hội Phật Giáo Việt Nam
tại liên khu 5 làm Phó chủ tịch Mặt trận Liên Việt tại
liên khu 5. Trong năm đó Ngài đứng ra triệu tập chư Tăng
bốn tỉnh Nam, Ngãi, Bình, Phú, để tổ chức Hội Phật Giáo
Việt Nam liên khu 5 và Ngài được cử làm Chánh Hội trưởng.
Năm
Tân Mão (1951), Ngài khai sơn chùa Thiên Chơn tại ấp Kiên Mỹ,
quận Bình Khê, tỉnh Bình Định, nhưng chùa đã bị chiến
tranh hủy hoại. Sang năm Nhâm Thìn (1952), mặc dù chiến tranh
khốc liệt đã tiêu hủy tài sản của Phật giáo rất nhiều,
nhưng Ngài cũng vì đạo pháp cố gắng khai sơn chùa Thiên
Phước thuộc ấp Kiên Mỹ, quận Bình Khê, tỉnh Bình Định
để nối lại chùa Thiên Chơn đã bị hủy hoại.
Đến
năm Ất Mùi (1955), Ngài lên Kontum khai sơn chùa Trung Khánh thuộc
ấp Trung Lương. Cùng năm ấy, Hội Phật Học Việt Nam tái
lập, thỉnh Ngài làm chứng minh đạo hạnh, và Giáo Hội Tăng
Già ra đời, thỉnh Ngài vào hàng Trưởng lão cố vấn cho
Giáo Hội Tăng Già.
Năm
Mậu Tuất (1958), Ngài họp môn phái để cải tạo Tổ đình
Long Khánh. Năm sau Kỷ Hợi (1959), Ngài chứng minh cho cuộc
đúc kim thân Phật Tổ bằng đồng cao 2 thước để thờ tại
Bửu điện chùa Long Khánh- Qui Nhơn.
Đến
năm Quí Mão (1963), Ngài tham gia vào phong trào phản đối chế
độ độc tài Ngô Đình Diệm. Sau khi chế độ này sụp đổ,
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời, thỉnh Ngài
vào hàng Trưởng lão cố vấn của Giáo Hội Trung Ương.
Cuối
năm Giáp Thìn 1964, Ngài lại lo trùng tu chùa Thiên Đức. Cũng
trong năm đó chiến tranh lan rộng, địa xứ chùa Thiên Đức
bị mất an ninh, vì thế đến năm Đinh Mùi (1967), Ngài phải
di trú về chùa Long Khánh.
Năm
Mậu Thân (1968), Ngài làm Hóa chủ cho Đại giới đàn chùa
Long Khánh và Hòa thượng Phúc Hộ làm Đàn đầu thí giới.
Năm
Kỷ Dậu (1969), mặc dầu niên lãm đã cao, nhưng vì sự ân
cần cung thỉnh của chúng Tăng nên Ngài đã nhận làm Thiền
chủ lớp an cư kiết hạ tại Tổ đình Long Khánh - Qui Nhơn.
Ngài
thị tịch lúc 18 giờ ngày 10 tháng 02 năm Canh Tuất, tức là
ngày 17-3-1970. Thọ thế 75 tuổi, hạ lạp 50 năm.