HÒA
THƯỢNG
HƯƠNG
TÍCH - THÍCH VẠN ÂN
(1886
- 1967)
Hòa
thượng Thích Vạn Ân thuộc dòng Lâm Tế, tông Liễu Quán,
đời thứ 42, húy Trừng Thành, sinh năm 1886 tại thôn Vạn
Lộc, xã Hòa Mỹ, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Xuất thân
trong một gia đình Nho phong danh tiếng ở địa phương. Thân
phụ là cụ Nguyễn Chơn Tịnh, thân mẫu là cụ bà Trần Thị
Như Liên. Cả gia đình đều thâm tín Tam Bảo, có nhiều vị
xuất gia danh tiếng. Chính song thân Ngài đã phát tâm kiến
tạo Tổ đình Khánh Long danh tiếng một thời.
Thuở
nhỏ Ngài theo học Nho, nổi tiếng là một nho sinh thông minh,
hoạt bát. Thường ngày Ngài được song thân hướng dẫn lễ
Phật, bái sám. Sẵn có túc duyên, năm 12 tuổi, Ngài quyết
chí xuất gia. Được song thân cho phép, Ngài đến cầu pháp
với Tổ Nguyên Đạt chùa Long Tường ở xã nhà và được
nhận làm đệ tử, pháp danh là Trừng Thành.
Năm
21 tuổi (Đinh Mùi - 1907), Ngài được Bổn sư cho đi thọ Cụ
Túc giới tại Đại giới đàn chùa Sắc Tứ Long Sơn Bát Nhã
ở Tuy An. Kế đó Ngài lại tham học với Tổ Bát Nhã 5 năm.
Năm 26 tuổi, Ngài được mời vào hàng Tam sư làm Yết ma tại
Đại giới đàn chùa Mông Sơn ở Phan Rang. Với chí nguyện
hoằng pháp độ sanh, Ngài đã vân du hóa đạo khắp Trung,
Nam lên đến Cao nguyên: Ninh Thuận, Bình Thuận, Biên Hòa, Bà
Rịa, Châu Đốc, Buôn Ma Thuột.
Năm
Đinh Mão (1927), Ngài được mời làm giảng sư tại Phật học
đường gia giáo chùa Giác Hoa tỉnh Bạc Liêu trong 3 năm. Trong
thời gian này Ngài đã có dịp cộng tác với Hòa thượng
Khánh Anh, một vị cao Tăng có công lớn trong việc chấn hưng
Phật giáo tại miền Nam. Kế đó Ngài được mời giảng dạy
tại Phật học đường chùa Tây Thiên và chùa Kim Sơn tại
tỉnh Ninh Thuận, đồng thời làm Pháp sư giảng luật tại
trường Hương chùa Trùng Khánh ở Phan Rang.
Năm
Ất Hợi (1935), chùa Sắc Tứ Bát Nhã mở trường Hương, an
cư kiết hạ. Ngài được mời làm Thiền chủ. Năm Kỷ Sửu
(1949), Ngài được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng, tái
thí truyền giới tại giới đàn chùa Bảo Sơn - Tuy An. Năm
Đinh Dậu (1957), Ngài được cung thỉnh làm Yết Ma A Xà Lê
tại đại giới đàn Phật học viện Hải Đức ở Nha Trang
do đại lão Hòa thượng Thích Giác Nhiên chùa Thiền Tôn -
Huế làm Đàn đầu và Hòa thượng Thích Trí Thủ làm Đàn
chủ.
Tuy
Ngài vân du hóa đạo khắp nơi, nhưng nơi thường trú của
Ngài trong thời gian đầu là Tổ đình Khánh Long. Dưới tài
khai hóa của Ngài, Tổ đình luôn luôn tấp nập người Tăng
kẻ tục đến cầu đạo, các danh nho trí sĩ đương thời
lui tới vấn đạo tham kinh. Thời gian sau Ngài chọn được
một nơi để kiến lập ngôi già lam mới. Đó chính là Tổ
đình Hương Tích, một nơi xứng đáng là danh lam thắng tích,
có sơn thủy hữu tình, lại thuận đường lui tới học đạo
cho Tăng tục gần xa. Đây là trụ xứ thứ hai và cũng là
trụ xứ chính thức cho cuộc đời hoằng đạo của Ngài.
Do đó Tăng tín đồ thường gọi Ngài là Hòa thượng Hương
Tích. Chính nơi đây, năm Ất Mùi (1955), môn đồ từ các nơi
tập trung về đây an cư tu học trong ba tháng để có dịp
hầu cận Tôn sư cầu ân pháp nhũ.
Công
hạnh hoằng pháp của Ngài đang hưng thịnh thì chiến tranh
diễn ra khắp nơi. Năm 1964, Ngài phải cùng Tăng chúng tạm
lánh về Tổ đình Bửu Tịnh tại thị xã Tuy Hòa nơi đặt
trụ sở của Tỉnh Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
Phú Yên. Tỉnh Giáo Hội cung thỉnh Ngài làm Trưởng ban trùng
tu Tổ đình Bửu Tịnh và thừa kế tổ nghiệp ở đây. Cũng
trong thời gian này Ngài được cung thỉnh vào ngôi vị Chứng
minh đạo hạnh cho Tỉnh Giáo Hội.
Ngoài
việc khai sơn Tổ đình Hương Tích, Ngài còn có công xây dựng
mới và trùng tu trên hai mươi lăm ngôi chùa, có nơi còn di
tích, có nơi đã hoang phế vì thời cuộc. Trong số chùa mới
lập, đáng kể là chùa Phi Lai xã Hòa Tịnh, chùa Cảnh Long
xã Hòa Tân, chùa Cảnh Thái và Niệm Phật Đường ấp Nhì
xã Hòa Vinh, chùa Ân Quang xã Hòa Thành, Niệm Phật Đường
thôn Bàn Thạch, xã Hòa Xuân, chùa Hưng Long thôn Uất Lâm,
xã Hòa Hiệp, chùa Liên Sơn và chùa Thanh Hương xã Hòa Phong,
chùa Pháp Võ thôn Mỹ Thành, chùa Châu Lâm thôn Ngọc Lâm,
chùa Quảng Long thôn Quảng Tường, xã Hòa Mỹ, Niệm Phật
Đường Hồng Ân tại Trung tâm cải huấn thị xã Tuy Hòa.
Về
công trình trùng tu tái thiết có chùa Long Sơn thôn Phụng Tường,
chùa Long Thọ thôn Qui Hậu xã Hòa Trị, chùa Mỹ Quang xã Hòa
Phong, chùa Hòa Sơn, Tổ đình Thượng Tiên Thọ Vân xã Hòa
Kiến. Ngoài ra Ngài còn chứng minh khai sơn nhiều chùa ở các
tỉnh như chùa Diên Thọ, chùa Bửu Liên, chùa Bửu Tích, chùa
Bửu Tạng tại Phan Rí - Bình Thuận, chùa Từ Ân ở Buôn Ma
Thuột.
Trong
cuộc đời hoằng pháp lợi sinh của Ngài, đặc biệt là việc
Ngài tự tay góp đá lát bằng mặt đường đèo Xương Cá
ở thôn Phú Điền, xã Hòa Kiến, giúp đồng bào địa phương
đi lại được dễ dàng, và việc Ngài lập đàn cầu siêu
suốt 7 ngày đêm cho các nạn nhân bị bão lụt năm Giáp Tý
(1924) tại thôn Hà Lò, xã Hòa Hiệp mà mọi người còn ghi
nhớ.
Là
một thiền sư đức độ, tánh tình bình dị, nhu hòa, bao dung
độ lượng, Ngài lúc nào cũng sẵn sàng tha thứ và tiếp
dẫn đồ chúng, không phân biệt cao hạ thân sơ. Ngài luôn
luôn chăm lo trang nghiêm Tổ nghiệp, lân mẫn dạy dỗ đệ
tử, hướng dẫn chúng sinh, đã độ trên năm mươi đệ tử
xuất gia và hàng ngàn đệ tử tại gia trong và ngoài tỉnh.
Một số đệ tử xuất gia có uy tín hiện nay như Hòa thượng
Diêu Quang kế thừa Tổ đình Hương Tích, Hòa thượng Diêu
Tâm tọa chủ chùa Phi Lai... Pháp điệt của Ngài khá đông,
có nhiều vị đang đảm nhận Phật sự tại nhiều nơi trong
Giáo hội. Đại Đức Thích Nguyên Hương, người đã dùng
nhục thân đốt lên ngọn đuốc thứ hai sau Bồ Tát Thích
Quảng Đức tại Sài Gòn trong mùa pháp nạn 1963, là pháp điệt
gọi Ngài bằng Sư Ông.
Ngài
chuyên hành trì Mật tông và pháp môn Tịnh độ. Hai thời
khóa tụng tối khuya được Ngài thực hiện đều đặn, không
hề thay đổi. Hàng ngày nhất cử, nhất động Ngài đều
bắt ấn trì chú và niệm Phật. Công năng hành trì này đã
được kết quả diệu dụng. Nhiều chứng bệnh thầy thuốc
bó tay, Ngài đều chữa khỏi bằng sức gia trì của Mật chú.
Tổ đình Hương Tích nhiều khi như là một bệnh viện đủ
các loại bệnh nhân: tâm thần, bệnh con nít, tà nghiệp...
Đầu
tháng 2 năm Đinh Mùi (1967), biết cơ duyên giáo hóa đã mãn,
sự thị hiện ở đời không còn bao lâu nữa, luật vô thường
đã chi phối tấm thân tứ đại, Ngài cho báo tin các môn đồ
ở các nơi về để thầy trò gặp nhau lần cuối. Rồi đến
nửa đêm ngày mồng 8 tháng 2, nhằm ngày vía đức Bổn Sư
Thích Ca xuất gia, Ngài định thần an nhiên thị tịch tại
Tổ đình Bảo Tịnh, hưởng thọ 82 tuổi đời, 61 tuổi hạ.
Kim quan của Ngài được đem về quyền táng tại chùa Ân Quang
xã Hòa Thành. Đến năm Bính Thìn (1976), linh cốt của Ngài
được đem về nhập tháp tại Tổ đình Hương Tích.