HÒA
THƯỢNG
HỮU
NHIÊM
(1917
- 1966)
Hòa
thượng thế danh Hữu Nhiêm, pháp danh Suddhamma Paĩĩă (Tuệ
Thiện Pháp), sinh năm 1917 tại thôn Trâu Trắng, xã Tân Lộc,
huyện Thới Bình, tỉnh Minh Hải, trong một gia đình có truyền
thống tu học thuộc cộng đồng Phật giáo Khmer Nam bộ. Thân
phụ Ngài là ông Hữu Nghét, thân mẫu là bà Danh Thị Sóc.
Vì
vậy, thuở thiếu thời, Ngài đã sớm quen với các tập tục
lễ nghi và cách sống của nếp đạo, thường xuyên đến
các chùa chung quanh vùng để lễ bái, đọc kinh và học tiếng
Khmer với các vị sư tại những nơi đó.
Do
gia đình thuộc thành phần nông dân tay lấm chân bùn, Ngài
không tránh khỏi quãng thời gian nhọc nhằn, sớm khuya cùng
cha mẹ quần quật với ruộng đồng, hết sức cơ cực. Nhưng
nhờ thiện căn đã sẵn ươm mầm nơi đất đạo, nên Ngài
nhanh chóng phát hiện ra chân lý và đối chiếu với thực
tại cuộc sống Sinh - Già - Bệnh - Chết, nên ý chí tìm cầu
giác ngộ giải thoát càng thêm được củng cố vững chắc.
Thuận
duyên đến lúc tuổi thiếu niên đầy sinh lực, Ngài đã vượt
qua được những cám dỗ đời thường mà rất ít người
có được ở ngay giữa tuổi 19. Đó là năm Ất Hợi 1935 tại
chùa Trâu Trắng quê nhà, Ngài đã thực thụ trở thành một
người xuất gia. Một bước ngoặt mới đầy ý nghĩa trong
cuộc đời Ngài.
Ít
lâu sau khi xuất gia, Ngài đã lãnh hội đầy đủ những kiến
thức Phật học cơ bản cần có ở một vị Sa môn. Vì vậy
năm 1938 sau khi thọ Cụ Túc giới, Ngài nhận chức trụ trì
chùa Trâu Trắng do Phật tử nơi này thiết tha thỉnh cầu.
Thời
gian làm trụ trì chùa Trâu Trắng, Ngài đã hướng dẫn Phật
tử người Việt gốc Khmer tu tập theo thời khóa nhất định.
Ngài mở ngay tại chùa các lớp dạy chữ Quốc ngữ lẫn Khmer
để thế hệ mai sau có cơ duyên tiếp cận và tham cứu các
tạng kinh điển từ nhiều hướng. Riêng bản thân Ngài, ngoài
việc tiếp tục trau giồi phẩm hạnh, bồi nạp năng lực
phước duyên, Ngài bắt đầu làm quen với tạng kinh Pàli và
tìm mời các vị thầy giỏi về tạng ngữ ấy về dạy.
Năm
1945, là thời điểm đất nước đang sôi sục đấu tranh chống
thực dân xâm lược. Từ nơi mái chùa Trâu Trắng, Ngài bắt
đầu tiếp xúc, làm quen với nhiều cán bộ trong Mặt Trận
Việt Minh. Từ đó, Ngài tiếp tế, che giấu không ít cán bộ
chiến sĩ vào địa bàn tỉnh Minh Hải hoạt động.
Năm
1947, Ngài được bầu làm Ủy viên Mặt trận tỉnh Rạch Giá,
phụ trách Tăng sĩ Phật giáo Khmer, Theravàda Nam bộ.
Từ
đây, thời giờ của Ngài dành cho Phật sự và hoạt động
kháng Pháp sao cho chu đáo cả đôi bên. Ngài dành ra nhiều
thời gian để đi đến tận nơi có Tăng sĩ Khmer để vận
động và khuyên nhủ sách tấn tu học. Đồng thời tranh thủ
sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng người Việt gốc
Khmer có tín ngưỡng Phật giáo thuần túy cho công cuộc kháng
chiến chống xâm lược.
Năm
1964, khi Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được thành lập,
Ngài được cử giữ chức Phó Chủ Tịch.
Do
địa bàn thiên nhiên sông rạch chằng chịt, tràm đước đan
xen, nên mọi dấu chân hoạt động của Ngài cũng được khuất
lấp. Mật thám Pháp lẫn Mỹ sau này không còn cách nào hơn
là liên tục dội bom thẳng xuống mái chùa Trâu Trắng, nơi
Ngài trụ trì và tu học. Và lần dội bom cuối cùng chùa Trâu
Trắng đã hoàn toàn tan hoang, kể cả nền đất cũng không
còn.
Ngài
phải hoạt động và tá túc từ chùa này đến chùa khác còn
lại trong địa bàn. Đôi khi Ngài phải lánh mặt sang tận
Campuchia. Có thể nói Ngài là một trong rất ít vị Hòa thượng
gốc Khmer vừa hoạt động Cách Mạng nhiệt tình vừa dành
trọn thời khóa để tu học một cách vẹn toàn.
Ngày
7 tháng 10 năm 1966 trên đường lưu trú, Ngài ghé lại chùa
Nhà Máy (thuộc xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời, tỉnh
Minh Hải ngày nay). Máy bay Mỹ sau đợt càn quét chung quanh
các cánh rừng tràm, đã không bỏ sót ngôi chùa này, dội
bom nhiều đợt, thiêu hủy hoàn toàn chùa Nhà Máy. Không một
người sống sót, trong đó có Hòa thượng Hữu Nhiêm.
Trước
Ngài là Hòa thượng Tăng Nê (1965) cũng có cái chết tương
tự đã ghi đậm trong lòng biết bao đồng bào Phật tử người
Việt gốc Khmer nơi vùng Tây Nam bộ, niềm nuối tiếc, xót
xa về một công dân sớm nhận lấy trách nhiệm cứu nước
đồng thời là một tu sĩ thực hành hạnh nguyện giải thoát
lợi tha.