HÒA
THƯỢNG
TĂNG
NÊ (NỆ)
(1899
- 1965)
Hòa
thượng Tăng Nê sinh năm Kỷ Hợi (1889) tại Kinh Hai, thuộc
ấp Vĩnh Thạnh, xã Vĩnh Phong, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Rạch
Giá (nay là tỉnh Kiên Giang) là người bản địa gốc Khmer.
Ngài
xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo, đã đến định
cư rất sớm trước khi người Việt, người Hoa đến. Gia
đình qui kính đạo Phật, sống hiền hòa và cần mẫn với
các cộng đồng đến khai hoang mở đất tại Vĩnh Phong này.
Phụ
thân Ngài là ông Danh Thô, là tá điền của điền chủ Trần
Văn Học. Lao động cật lực với 1 mẫu 6 ruộng lúa mà mỗi
kỳ vụ phải nộp 40 giạ. Vì thế, khi Ngài sinh ra, cảnh nghèo
khổ bần hàn của gia đình như chờ sẵn. Phụ thân Ngài với
cảnh gà trống nuôi con phải làm lụng vất vả thêm bội
phần, để Ngài được lớn lên không đến nổi thiếu thốn
như các trẻ em cùng lứa tuổi.
Một
năm trước khi Ngài sinh ra, 1898, Toàn quyền Đông Dương Paul
Doumer đã ra lệnh nạo vét kênh Núi Sập (Thoại Hà) nối Long
Xuyên qua Rạch Giá, với tư cách một ông vua nhỏ, xem thường
các Tỉnh trưởng thuộc địa khiến thực dân khắp Nam kỳ
phản đối quyết liệt. Hậu quả của việc giành thuế á
phiện, giành quyền sử dụng nông nô, sở hữu các kênh đào
vv... làm bà con nông dân đã nghèo lại thêm nghèo khổ đến
xơ xác. Tình huống đen tối đó cứ tiếp diễn trong suốt
quá trình đô hộ. Ngài được sinh ra và lớn lên trong một
bối cảnh như thế.
Cũng
như các gia đình Khmer khác, hoàn cảnh khắc nghiệt không thể
làm phôi phai giá trị tinh thần to lớn của người con Phật
là các ngày sóc vọng đến chùa lễ Phật, nghe giảng giáo
lý và học chữ. Khi duyên lành đã đến kỳ đạt quả, Ngài
xuất gia năm Giáp Dần (1914), lúc ấy vừa 15 tuổi.
Năm
Bính Thìn (1916), Ngài thọ Sa Di giới tại chùa Chắc Băng,
thuộc xã Vĩnh Phong, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Rạch Giá.
Ngài
tu học tại chùa Chắc Băng cho đến năm Tân Dậu 1921 (22 tuổi)
thì thọ Cụ Túc giới. Hòa thượng Tăng Hô là người thầy
đầu tiên của Ngài đã theo dõi chặt chẽ việc tu học và
tiếp tục nâng cao trình độ tri thức cho Ngài, kể cả dạy
thật kỹ chữ Khmer. Vừa tu học, vừa làm thị giả cho Hòa
thượng, Ngài được Hòa thượng đánh giá là xuất sắc và
tin tưởng, giao phó Ngài nhiều công việc quan trọng.
Thấy
Ngài có nhận thức tương đối tốt về mọi lẽ, khá sâu
sắc khi phân tích ký ức về thời niên thiếu nhiều biến
động theo thời cuộc, cũng như những sự kiện trong hiện
tại... Nên Hòa thượng Tăng Hô truyền dạy tinh hoa Phật học
và không ngần ngại truyền cho Ngài tinh thần yêu nước bên
cạnh những việc mà Hòa thượng đang cống hiến cho cách
mạng.
Trước
khi Hòa thượng Tăng Hô tịch khá lâu, Ngài đã thực sự sát
cánh cộng sự đắc lực bên Hòa thượng. Thời gian hoạt
động đó, Hòa thượng Tăng Hô đương chức Phó Chủ Tịch
Mặt Trận Việt Nam Nam bộ, đồng thời kiêm Chủ tịch Hội
đồng Kỷ luật Sư Sãi Nam bộ. Hai chức vụ quan trọng này
khi Hòa thượng Tăng Hô tịch, Ngài thay thế nhận lấy và
hoạt động tiếp tục, gây được tiếng vang và chiếm được
sự kính nể trong cộng đồng Phật giáo Khmer Nam bộ thời
bấy giờ.
Vừa
tu vừa hoạt động cách mạng một cách tích cực, Ngài luôn
giữ vững truyền thống yêu nước và những tôn chỉ cao cả
của giáo pháp. Trong công cuộc hoằng hóa, Ngài đã khai mở
kiến thức Phật học cho các cư sĩ Phật tử. Với việc truyền
thừa tông chỉ, Ngài đã tiếp Tăng chúng cũng như cho xuất
gia rất nhiều môn đồ. Do đó, Ngài được Tăng chúng và
đông đảo tín đồ kính mộ, xem lời nói và sự nghiệp tu
hành của Ngài là biểu mẫu chung để hành thiện tu trì và
phụng sự dân tộc. Đó là trợ duyên cần thiết cho một
người đang rất cần nhiều hậu thuẫn để hoàn thành công
việc theo dự tính chung. Và Ngài đã thành công. Ngài là một
nhà sư trí thức, vì đạo vì đời, giàu lòng nhân từ, bi
mẫn và luôn phấn đấu không mệt mỏi cho lý tưởng giải
thoát.
Trong
những năm thập kỷ 60, cuộc dấn thân vì dân tộc của Ngài
chuyển sang bước ngoặc mới để có thể đáp ứng được
tình thế trước âm mưu thực dân mới, áp đặt khủng bố
khắp mọi nơi, mà nạn nhân trực tiếp không ai khác hơn là
chính những người nông dân nghèo khổ quanh Ngài. Vì thế
Ngài là một trong những vị sư yêu nước tiêu biểu của
giới Phật giáo Khmer Nam bộ. Để tồn tại mà thực hiện
hạnh nguyện độ sinh, Ngài phải di chuyển chỗ ở liên tục
hầu tránh sự theo dõi của chính quyền miền Nam. Từ Cos Đôn
rồi đến Khna roông... ý chí và tinh thần yêu nước thương
người nơi Ngài vẫn thủy chung trong tấm áo Cà Sa đi theo
con đường từ bi của đức Phật và sự nghiệp cách mạng
giải phóng dân tộc.
Năm
Ất Tỵ 1965, Hòa thượng Tăng Nê đã tịch tại chùa Kinh Hai,
thuộc huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang. Trụ thế 66 tuổi,
trên 50 năm cống hiến cho đạo bằng hình bóng xuất gia.