HÒA
THƯỢNG
THÍCH
THANH TÍCH
(1881
- 1964)
Hòa
thượng họ Nguyễn, hiệu Phả Minh, pháp danh Thích Thanh Tích,
sinh năm Tân Tỵ (1881) tại thôn Quỳnh Trân, xã Lam Hạ, huyện
Duy Tiên, tỉnh Nam Hà (Hà Nam cũ). Ngài sinh trưởng trong một
gia đình nhà Nho nghèo, có tất cả 4 anh em và có 2 người
xuất gia đầu Phật.
Năm
1893, khi lên 13 tuổi, mến cảnh giải thoát nơi chốn Hương
Sơn, được song đường cho phép, Ngài phát tâm xuất gia, y
vào Tổ Thanh Quyết trụ trì chùa Hương Tích Hà Đông, là
một bậc long tượng trong thiền môn, sớm hôm tu hạnh giải
thoát, học đạo xuất trần.
Năm
1898, Ngài được thọ giới Sa Di lúc 18 tuổi và tinh tấn hành
đạo, đến năm 21 tuổi, Ngài thụ giới Cụ Túc. Nhờ tham
học nhiều kinh sách Nho học, Lão học và Phật học, hơn nữa
Ngài là người nổi tiếng nghiêm trì giới luật, ưa hạnh
lan nhã nơi chốn núi rừng yên tĩnh của khu danh sơn Hương
Tích, nên trong hàng Tăng chúng ai cũng quí kính mến phục là
bậc pháp khí của Sơn môn.
Năm
1925, Ngài 45 tuổi, được Tổ Thanh Quyết, Tổ thứ 8 Hương
Tích cử làm Giám Viện chùa Hương, hướng dẫn Tăng chúng
trong chốn tùng lâm.
Năm
1931, Ngài 51 tuổi, được Tổ truyền trao ngôi trụ trì chùa
Hương, tiếp nối đời thứ 9 sơn môn Hương Tích, khi Tổ
cảm thấy tuổi già sức yếu, duyên hóa đạo đã mãn.
Năm
1934, trong phong trào chấn hưng Phật giáo, Hội Bắc Kỳ Phật
Giáo được thành lập, Ngài được cung thỉnh vào Ban Chứng
minh Đạo sư của hội.
Năm
1938, khi chùa Quán Sứ được trùng hưng, Ngài được Tăng
già thỉnh đảm nhận Thủ quỹ phụ trách hưng công chùa Quán
Sứ cùng với các bậc Tôn túc trong Hội Bắc Kỳ Phật Giáo.
Ngoài
việc phát huy danh thắng Hương Sơn, và tham gia công cuộc chấn
hưng Phật giáo của Tăng Già, Ngài còn có công trùng tu trên
mười ngôi chùa lớn nhỏ ở khắp các nơi như: chùa Hưng
Long (Quỳnh Trân, Nam Hà); chùa Hương Trảm (Hội Xá, Mỹ Đức);
chùa Liên Hương (Đông Bình, Mỹ Đức); chùa Đồng Chiêm (Mỹ
Đức); chùa Huyền Công (Khả Phong, Hà Tây); chùa Nguyên Đoài
(Hà Nam); chùa Châu Lâm (Duy Tiên, Hà Nam) v.v...
Song
song với việc trùng tu tạo dựng các Tổ đình Tự viện Ngài
còn cho trùng san, in khắc những bộ kinh luật luận nổi tiếng
như: Duy Ma Cật kinh; Giải Thâm Mật kinh; Yết Ma Chỉ Nam; Di
Đà Viên Trung; Pháp Hoa đề cương v.v...
Với
chí nguyện độ sinh, giáo hóa Tăng chúng làm rạng danh nơi
Phật Tích. Ngài đã giáo dưỡng được hơn một trăm đệ
tử xuất gia đều tinh thông cả thế học cũng như Phật Học
nổi tiếng như các vị: Tố Liên, Thanh Chân v.v...
Năm
1947, cuộc chiến chống Pháp bùng nổ, Hòa thượng ưu mẫn
trước cảnh nước mất nhà tan, cảm nhận sâu sắc lẽ vô
thường nên Ngài truyền trao trách nhiệm trụ trì lại cho
đệ tử là Hòa thượng Thanh Chân, kế thừa đời thứ 10
chốn Tổ Hương Tích trông nom sự nghiệp tùng lâm.
Trong
những năm tháng còn lại, Ngài lui về chùa Hưng Long, thôn
Quỳnh Trân, mai danh ẩn tích chuyên lòng tu niệm cầu nguyện
vãng sinh cho đến khi Ngài thị tịch vào ngày 21 tháng 12 năm
Giáp Thìn (1964), hưởng thọ 84 tuổi đời, hành đạo 62 năm.
Bảo
tháp của Hòa Thượng hiện còn lưu tại chùa Hưng Long, thôn
Quỳnh Trân, Lam Hạ, Duy Tiên, Nam Hà. Suốt quá trình hành đạo,
Ngài nổi tiếng là một bậc mô phạm chân tu, đức độ của
Ngài cảm hóa Tăng tín đồ nơi nơi quy ngưỡng. Âm vang sự
nghiệp đó, còn được lưu truyền nơi danh sơn Hương Tích:
“Điển
hình do tại ư Tổ tràng.
Công
nghiệp lưu truyền ư Phật Tích".